Đăng ký

Hãy chứng minh và cho biết dụng ý của Nguyễn Tuân thông qua cách miêu tả chữ người tử tù

4,830 từ

Có ý kiến cho rằng: Nét độc đáo trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) là vẻ đẹp về tài năng và khí phách của Huấn Cao đều được cảm nhận qua con mắt và sự đánh giá của quản ngục.

Anh/chị hãy chứng minh và cho biết dụng ý của Nguyễn Tuân thông qua cách miêu tả đó.

Vang bóng một thời là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân xuất bản năm 1940. Chữ người tử tủ nằm trong tập truyện này. Truyện ngắn đã khắc hoạ được một hình tượng đẹp: Hình tượng Huấn Cao. Đặc biệt, chân dung nhân vật ông Huấn lại luôn được đặt trong sự quan sát, đánh giá của viên quản ngục. Chính điều này đã làm nên nét đặc sắc của tác phẩm.
 
Huấn Cao là nhân vật trung tâm của tác phẩm. Lúc đầu tác phẩm có tên là Dòng chữ cuối cùng kể về những tháng ngày cuối cùng của Huấn Cao trong nhà ngục tỉnh Sơn. Hình tượng nhân vật Huấn cao được xây dựng từ nguyên mẫu Cao Bá Quát - một danh sĩ thế kỉ 19, nỗi tiếng về tài viết chữ đẹp và khí phách lừng lẫy. Ông từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình Tự Đức. Ở Cao Bá Quát hội tụ hai phẩm chất: chí sĩ và nghệ sĩ. Nguyễn Tuân đã khai thác triệt để đặc điểm này khi xây dựng nhân vật Huấn Cao, biến Huấn Cao trở thành một ẩn dụ nghệ thuật, bộc lộ ý đồ tư tưởng của mình: Sự trân trọng, tôn thờ cái đẹp như một báu vật thiêng liêng vượt lên trên cõi đời phàm tục. Ở Huấn Cao có sự kết tụ, hài hoà giữa tài năng, khí phách và thiên lương. Cái đẹp tuyệt đỉnh, tuyệt đối của nhân vật này không phải hiện lên trực tiếp qua sự mô tả của tác giả mà thông qua sự đánh giá, nhận xét và thái độ của một nhân vật khác: quản ngục. Đây là sáng tạo độc đáo của Nguyễn Tuân. Một mặt nó làm cho chân dung nhân vật hiện lên khách quan, tránh được mọi sự gò ép, áp đặt. Mặt khác, nó cũng có tác dụng như một chiếc đòn bẩy, tôn cái tài, cái đẹp, cùng những phẩm chất đáng quý của Huấn Cao lên gấp nhiều lần. Và như vậy, người đọc có cảm giác nhân vật đã trở thành một huyền thoại, sống mãi trong niềm tôn thờ, ngưỡng mộ của người đời. Điều này cũng phù hợp với quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân.

Cũng như rất nhiều nhân vật khác của Nguyễn Tuân, Huấn Cao hiện lên là người có tài năng khác thường. Nét tài hoa này trước hết thể hiện ở tài viết chữ đẹp. Đó là tài viết chữ Hán - thứ chữ tượng hình, đã được người xưa nâng lên tầm nghệ thuật - nghệ thuật thư pháp. Việc chơi chữ đã trở thành một nghệ thuật cao quý, một thú vui và truyền thống văn hoá đống quý của dân tộc. Tuy chưa xuất hiện nhưng tài viết chữ đẹp của Huấn Cao đã được viên quản ngục và thầy thơ lại nhắc đến với sự ngưỡng mộ. Ông là người viết chữ đẹp “nổi tiếng cả tỉnh Sơn. Chữ ông Huấn Cao đẹp lấm, vuông lắm”. Không chịu dừng lại, Nguyễn Tuân còn dùng thủ pháp đòn bẩy để tô đậm sự tài hoa khác thường của ông Huấn qua việc diễn tả thái độ sùng kính của quản ngục. Ngay từ khi mới gặp Huấn Cao, thầy quản đã quên đi chức trách của một nhà hành pháp để đaư đớn, khát khao có được chữ ông Huấn về treo. Ở đây con người nghệ sĩ đã được đặt cao hơn con người quan chức. Quan ngục sẵn sàng chịu nhục, thậm chí chịu chết chém để đạt được khát vọng. Điều đó có nghĩa, nhân vật này đã đặt chữ ông Huấn - cái đẹp - lên cao hơn cả danh dự và tính mạng của mình. Thái độ của viên quản ngục tạo ra hai cái khác thường: Tài hoa của Huấn Cao đạt đến mức khác thường và niềm đam mê cái đẹp của thầy quản cũng đạt tới mức khác thường. Cái khác thường sau tôn cao cái khác thường trước khiến vẻ đẹp của ông Huấn càng trở nên rực rỡ..

Không chỉ tài hoa nghệ sĩ, Huấn Cao còn có khí phách khác thường. Đây là nét mới của Huấn Cao so với các nhân vật khác trong Vang bóng một thời.
 
Với cảm hứng lãng mạn, Nguyễn Tuân đã tô đậm nhân vật tới mức khác thường và lớn lao.

 Trước hết, Huấn Cao lớn về tầm vóc tư tưởng, ông là người dám từ bỏ công danh để xả thân vì nghĩa lớn, phất cờ dấy binh, chống lại triều đình, trở thành kẻ đại nghịch... Ở Huấn Cao, con người nghệ sĩ đã có sự kết hợp tuyệt đẹp với con người nghĩa sĩ. Bởi vậy, khi quản ngục nhận xét về chữ viết của Huấn Cao thì bên cạnh cái tài hoa còn có cái chí lớn: “Những nét chữ tròn, vuông, tươi tắn nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người”.

Bên cạnh tầm vóc tư tưởng, nhân vật này còn lớn lao ở tư thế bất khuất, Huấn Cao bị bắt, bị khép vào tội đại hình nhưng ông vẫn giữ tư thế đàng hoàng, ung dung đến khinh bạc. Để khắc hoạ nét tính cách này, Nguyễn Tuân đã huy động rất nhiều chỉ tiết mà chi tiết nào cũng gai góc, cũng phô lộ cái liều, cái ngông của một trang anh hùng giữa ngục thất. Nào là tính ông Huấn vốn “khoảnh, ngoài vài ba người bạn tri ki ông không cho ai chữ bao giờ”; nào là ông Huấn mắng thẳng kẻ đang biệt đãi ông, cầm giữ sinh mạng ông là quản ngục: “Ngươi hỏi ta muốn gì, ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi..”
 
Tuy nhiên, có lẽ chi tiết để lại nhiều ấn tượng nhất là sự xuất hiện khác thường của Huấn Cao trong nhà ngục tỉnh Sơn: hành động dỗ gông. Chỉ cần một hành động “dỗ gông” như thế, khí phách phi thường của Huấn Cao đã hiển hiện thành một ấn tượng đậm nét. Nó chứng tỏ thái độ coi khinh cường quyền của một con người tuy bị cầm tù về thể xác nhưng lại hoàn toàn tự do về mặt tinh thần. Khí phách của Huấn Cao làm cho người đại diện quyền lực chốn tù ngục cũng phải khiếp nể và gọi ông là kẻ “chọc trời khuấy nước”. Chính cái nhìn này đã góp phần nâng Huấn Cao lên tầm vóc anh hùng. Trong con người Huấn Cao ta cứ thấy phảng phất bóng đáng hiên ngang người anh hùng Từ Hải của Nguyễn Du:
 
Chọc trời khuấy nước mặc dầu 
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
 
Trước cái uy của Huấn Cao, quản ngục không chỉ kính nể mà còn khiếp hãi. Bị Huấn Cao xua đuổi, kẻ nắm trong tay quyền lực chốn lao tù chỉ dám khúm núm: “xin lĩnh ý”, Đó cũng là sự khuất phục của quyền lực trước cái đẹp khiến hỉnh tượng Huấn Cao cứ sừng sững suốt cả thiên truyện. Chúng ta nhận thấy cách tả người anh hùng của Nguyễn Tuân khác hẳn cách tả người anh hùng trong văn học cổ. Tác giả tả trang hào kiệt mà không cần tới râu hùm, hàm én, mày ngài, không cần đến binh đao nảy lửa. Trái lại, người anh hùng lại bị đẩy vào thế hổ sa cơ. Đây cũng là chỗ độc đáo trong bút pháp nghệ thuật của Nguyễn Tuân - tước bỏ những thước đo bên ngoài để miêu tả người anh hùng với thước đo mới từ bên trong. Cái “hùng” của nhân vật được toát lên từ thái độ và con mắt đánh giá của người khác. Do vậy, Huấn Cao trở thành một chân dung tinh thần lẫm liệt, có độ toả sáng bền lâu.
 
Nếu khi miêu tả Huấn Cao, Nguyễn Tuân chỉ dừng lại ở tài hoa và khí phách, tức là chỉ dừng lại ở cái kiêu bạc và gai góc thì người đọc sẽ nể phục nhưng chưa chắc đã yêu quý nhân vật. Bức chân dung ông Huấn chỉ được hoàn thiện khi nhà văn chấp bút đưa ra vẻ đẹp thứ ba: thiên lương trong sáng, tạo thành thế liên hoàn giữa tài hoa - khí phách - thiên lương. Nhân vật tới lúc này mới trở thành biểu tượng của sự hoàn thiện, hoàn mĩ, mang đậm cảm hứng lãng mạn và màu sắc lí tưởng đặc trưng của Nguyễn Tuân. Trong bản chất sâu xa của Huấn Cao, cái đẹp gắn với cái thiện, cái thiện chính là cái đẹp ở phương diện nhân cách. Thế kỉ XX, con người từng tiên đoán và khao khát đạo đức học trở thành mĩ học của tương lai. Huấn Cao có thể coi là biểu tượng của tiên đoán ấy. Cái thiên lương lành vững trong lòng ông được thể hiện trước hết ở sự tự ý thức, trân trọng và giữ gìn cái tài của mình, ông từng nói: “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền lực mà ép mình viết câu đối bao giờ”. Không chỉ biết trân trọng cái đẹp của mình, Huấn Cao còn có một tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, biết quý cái đẹp trong tâm hồn người khác. Khi nhận ra thiện tâm của viên quản ngục, ông Huấn nói một câu đầy ân hận: “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ”, ông Huấn là người không sợ tiền bạc, quyền thế và thậm chí cả cái chết nhưng lại sợ phụ bạc một tấm lòng trong thiên hạ. Chỉ có những nhân cách lớn mới có cái sợ đẹp đẽ như thế. Câu nói chân thành của Huấn Cao càng khiến ta cảm phục cái tâm trong sáng của ông. Cảm tấm lòng biết yêu quý cái đẹp của quản ngục, Huấn Cao đã không ngần ngại tăng chữ cho ông. Vậy nên mới có cảnh cho chữ trong tù mà tác giả gọi là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”.

Ở cảnh cho chữ này, vẻ đẹp của Huấn Cao được khắc hoạ nổi bật nhất, toàn diện nhất, sinh động nhất. Đây chính là sự thống nhất hài hoà đến cao độ của cái tài và cái tâm, của khí phách anh hùng và thiên lương trong sáng. Cảnh cho chữ diễn ra trong một hoàn cảnh thật đặc biệt. Đó không phải là nơi thảo đường, am mây hay chốn thư phòng với hương trầm thơm ngát mà là một phòng giam chật hẹp, “ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”. Nồi bật trên cái nền ấy là hình ảnh Huấn Cao với tư thế thật đẹp: “một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang tô đậm nét chữ trên tấm lụa trắng tinh”. Ở đây nhân vật không còn là một tù nhân nữa mà là một nghệ sĩ đang sáng tạo ra cái đẹp. Không gian như ngừng trôi và thời gian dường như ngưng đọng. Bên cạnh nhân vật Huấn Cao là viên quản ngục và thầy thơ lại: “người tù viết xong một chữ, viên quản ngục lại vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ...”. Động tác của họ ăn ý nhịp nhàng. Không còn khoảng cách giữa quản ngục và kẻ tử tù nữa mà chỉ còn lại sự đồng cảm, sự nhất tâm thành kính hướng tới cái đẹp.
 
Có lẽ xúc động nhất là lời khuyên của Huấn Cao như một di chúc thiêng liêng trước khi đi vào cõi vĩnh hằng: “Ta bảo thực, thầy quản nên tìm về quê ở. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững...”. Đây là lời khuyên chân tình của con người đã nghiệm ra lẽ phải và chân lí ở đời. Trong lời khuyên ấy ta nhận thấy vê đẹp của nhân cách. Cái đẹp có thể nảy sinh từ cái chết nhưng cái đẹp không bao giờ song hành cùng cái ác. Giữ lấy thiên lương cho lành vững cũng chính là giữ được cái thiện ở đời. Lời khuyên cùng những hoài bão tung hoành của cả đời Huấn Cao đã cảm hoá được viên quản ngục: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Nguyễn Tuân đã chọn được một chi tiết nghệ thuật hết sức độc đáo để phô diễn quyền uy của cái đẹp trong việc khuất phục quyền lực của cái ác, cái xấu. Cái vái của quản ngục trước Huấn Cao cũng giống như cái bái lạy trước hoa mai của Cao Chu Thần thuở xưa: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Một đời chỉ biết cúi đầu lạy hoa mai). Tin rằng sau khi nhận được những nét chữ cao quý của Huấn Cao, quản ngục sẽ sống khác đi để giữ mình luôn là “một thanh âm trong trẻo chen giữa bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”. Với ý nghĩ như thế, cảnh cho chữ bỗng trở thành cảnh thọ giáo thiêng liêng mà hình tượng trung tâm là Huấn Cao - vị giáo chủ mang trong mình quyền uy của cái đẹp.

Nguyễn Tuân vốn nhìn đời trên hai thái cực: cái đẹp và cái ác. Cái đẹp thì cao cả, thánh thiện, cái ác thì tầm thường, phàm tục. Đặc trưng cho cái đẹp là những con người rất mực tài hoa, khí phách và có thiên lương trong sáng như Huấn Cao. Đó là cái tài hoa, khí phách, thiên lương hơn người nên Nguyễn Tuân chứng minh bằng cách đưa Huấn Cao vào tận ngục tù mà vẫn toả sáng. Hình ảnh lồng lộng của Huấn Cao chính là biểu tượng thẩm mĩ của Nguyễn Tuân, là lời tụng ca bất tận cho cái đẹp vĩnh cửu của cuộc đời này, Huấn Cao không chỉ là một nghệ sĩ mà còn là một anh hùng chống phá bất công xã hội. Về mặt này, nhân vật trở thành một ẩn dụ kín đáo cho niềm phẫn nộ của Nguyễn Tuân đối với xã hội đương thời. Do vậy, Chữ người tử từ còn nằm trong mạch nguồn yêu nước, cái đẹp gắn với cái tâm làm nên sức sống bền lâu của ngòi bút Nguyễn Tuân.