Đăng ký

Hàn Mặc Tử: Số phận và khát vọng của người nghệ sĩ

5,982 từ

A, ĐỀ BÀI

I.     ĐỌC - HIỂU (3,0 điềm):
Đọc đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi:
       Tôi có hơn 25 năm sống ở Đức, làm đủ mọi nghê đê kiêm sông trên xứ người. Sau khi nước Đức thống nhất, tôi mua chiếc ôtô cũ để đi lại buôn bán. Một lần, để tiết kiệm, tôi thay dầu trong vườn nhà, nơi mình đang ở, thay vì mang ôtô ra xưởng.
        Vừa thay xong, chui khỏi gầm xe tôi thay hàng xóm lù lù xuất hiện. Đó là người đàn ông đã già vẫn thường hay cười với tôi qua hàng rào hoa. Nhìn vào khay dầu tôi đang bưng, ông nghiêm khắc nói: “Nếu tôi báo cảnh sát, cậu sẽ phải chịu phạt 500 mark. Tôi không báo vì chắc cậu không biết. Lần sau không được thay dầu ở vườn mà phải vào gara hoặc ra cây xăng". Tôi cãi rằng tôi đã có khay đựng dầu thừa. Nhưng ông tủm tỉm cười rồi bảo tôi cúi xuống, chỉ cho tôi cái vít đáy dầu: “Cậu nhìn kìa, dầu là loại vật chất dinh dở. Cậu cần thận đến đâu thì vân có vài giọt chảy ra cái vít kìa và rớt xuống vườn. Ai cũng như cậu thì mảnh đất của chúng ta sẽ nhiễm độc. Con cháu chúng ta sẽ chịu hậu quả khi sống ở đây. Tôi vội vàng xin lỗi và cảm ơn ông.
           Sau này, mỗi lần chúng tôi ngồi bên nhau ở chiêc băng gô, thưởng thức bia dưới những gốc anh đào trĩu trịt chùm quả đỏ ôi, tôi đều nhớ về gương mặt của ông, nhớ về lời nói của ông và nhớ về tình yêu ông dành cho mảnh vườn đã gan bó gần 90 năm...

(Yêu nước thời bình - Nguyễn Vãn Thọ - vnexpress.net 13/11/2015)

Câu 1: Xác định nội dung đoạn vãn.
Câu 2: Đoạn văn đã sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?
Câu 3: Anh/chị rút ra được những bài học gì từ thái độ và lời nói của nhân vật người hàng xóm?
Câu 4: Trong câu văn cuối đoạn, nhà văn đã sử dụng biện pháp điệp ngữ. Hãy cho biết tác dụng của biện pháp đó.

II.     LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung của đoạn vãn phần Đọc - hiểu, hãy viết một đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) thể hiện suy nghĩ về ý thức, trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sống hiện nay.
Câu 2 (5,0 điểm): Vẻ đẹp của bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của thi nhân trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử (SGK Ngữ văn 11, tập Hai). Nỗi niềm tâm sự đó gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về số phận và khát vọng của người nghệ sĩ (đặt trong liên hệ với hình ảnh Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca” - Thanh Thảo - SGK Ngữ văn 12, tập Một).

B. HƯỚNG DẪN

I. Phần Đọc hiểu

Câu 1 (0,5 điểm):
Nội dung đoạn văn: Câu chuyện về tình yêu và trách nhiệm của một người công dân Đức với quê hương minh qua những việc làm rất nhỏ bé.
Câu 2 (0,5 điểm):
Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
Câu 3 (1,0 điểm):
Học sinh có thể đưa ra nhiều bài học khác nhau, tuỳ vào nhận thức của bản thân nhưng cần đảm bảo tính hợp lí. Một số gợi ý:
-      Bài học về tình yêu quê hương, đất nước: tình yêu quê hương đất nước trở thành máu thịt trong mỗi con người, biểu hiện bằng những hành động thiết thực nhất.
-      Bài học về việc bảo vệ, giữ gìn môi trường sống: giữ gìn bảo vệ môi trường sống cho cá nhân, cho cộng đồng, cho hôm nay và cho cả mai sau.
-      Bài học về trách nhiệm với cộng đồng trong từng việc làm nhỏ nhất: mỗi cá nhân không thể tách rời khỏi cộng đồng nên bất cứ ai đều phải nêu cao trách nhiệm với cộng đồng, dù chỉ là trong những việc làm nhỏ nhất.
-      Bài học về việc nhận lỗi: ai cũng có thể làm sai nhưng quan trọng nhất là biết nhận lỗi để sửa chữa sai lầm.
Câu 4 (1,0 điểm):
Tác dụng:
-     Thể hiện tình cảm trân trọng, yêu mến, cảm phục, gắn bó đốỉ với người hàng xóm.
-     Nhấn mạnh sự ghi khắc và cũng là tự nhắc nhở chính mình, rút ra bài học cho mình của nhân vật “tôi” về thái độ và cách hành xử đối với mảnh đất quê hương từ những việc nhỏ bé nhất.

II. LÀM VĂN (7,0 điểm):

Câu 1 (2,0 điểm):
1.      Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)
Có thể trình bày đoạn văn theo nhiều cách: diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành...
2.       Xác định đúng vẩn đề cần nghị luận (0,25 điểm):
Vấn đề giữ gìn, bảo vệ môi trường sống hiện nay của giới trẻ.
3.      Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm)
Có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ được vai trò, ý nghĩa quan trọng của vấn đề bảo vệ, giữ gìn môi trường sống hiện nay. Có thể theo hướng sau:
-     Đoạn văn đã kể lại một câu chuyện rất giản dị về ý thức bảo vệ mảnh đất quê hương của một người Đức. Điều đó đã gợi nên suy nghĩ về trách nhiệm của the hệ trẻ trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường sống hiện nay.
-     Bảo vệ, giữ gìn môi trường sống là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, là yêu cầu cấp thiết trong xã hội hiện nay, đặc biệt khi tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng. Thế hệ cần chung tay, góp sức bằng những hành động cụ thể, thiết thực (dẫn chứng).
-     Phê phán thái độ thờ ơ, những hành động phá hoại môi trường sống của các bạn trẻ.
“ Liên hệ, rút ra bài học thiết thực cho bản thân: là một người trẻ tuổi, bản thân đã dự định và đang làm gì để góp phần bảo vệ môi trường sống.
4.      Chính tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tà, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.
5.      Sáng tạo (0,25 điểm):
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Câu 2 (5,0 điểm);

1. Đảm bảo cẩu trúc bài văn nghị luận (0,25 điểm):

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thế hiện được nhận thức của cá nhân.

2.    Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,5 điểm):
Bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của nhà thơ qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ”. Suy nghĩ về số phận, khát vọng của người nghệ sĩ.

3.    Triển khai vấn đề nghị luận:
Cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp dẫn chứng và lí lẽ.

a.     Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm (0,5 điểm):
Hàn Mặc Tử là một trong những nhà thơ lớn, một tài năng thi ca độc đáo và có sức sáng tạo mãnh liệt của phong trào thơ Mới. Thơ Hàn Mặc Tử có diện mạo phức tạp, bí ẩn, lạ lùng nhưng trong mạch ngầm cảm xúc, hồn thơ đau thương vẫn luôn hướng về cuộc đời trần thế với một tình yêu tha thiết. Đây thôn Vĩ Dạ lúc đau có tên là Ở đây thôn Vĩ, sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên sau đổi thành Đau thương. Bài thơ được gợi cảm hứng từ bức tranh phong cảnh Huế và từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái quế ở Vĩ Dạ - một thôn nhỏ với những ngôi nhà xinh xắn ẩn hiện trong những vườn cây xanh mát.

b.     Phân tích bài thơ để thấy được vẻ đẹp của bức tranh thôn Vĩ và nỗi niềm tâm sự của thi nhân (2,0 điểm):
- Khổ thơ thứ nhất:
+ Bức tranh vườn thôn Vĩ trong nắng mai: Thôn Vĩ được khắc họa qua hình ảnh của một khu vườn tươi đẹp, rực rỡ và bình yến:
++ Nắng thôn Vĩ là hình ảnh đầu tiến trong cảm nhận của thi sĩ. Trong mảnh vườn này, thi sĩ nói giản dị “nắng hàng cau” nhưng thật gợi cảm. Nó mang theo đặc trưng của Vĩ Dạ, chưa đến Vĩ Dạ đó nhìn thấy những vườn cau vút lên toả xuống những mái nhà vẻ êm đềm, thắm mát. Nó cũng là một loại khác, một thể khác, không phải là thứ nắng chiếu như “nắng mới” hay “nắng chang chang” đó là nắng chảy, nắng dội. Thân cau thẳng đứng thành nhiều nếp như một thước đo, nắng mai rót vào vườn đầy lên theo từng đốt, sóng sánh, lấp lánh. Cau lại là loại cây cao nhất nên đó là cây đón những tia nắng đầu tiên của một ngày “nắng mới lên”. “Nắng mới lên”là nắng bắt đầu, nắng ban mai, nắng thiếu nữ, rất thanh khiết, tinh khôi, trong trẻo.
++ Từ hàng cau, cái nhìn của thi sĩ đó rộng mở đến hình ảnh vườn thôn Vĩ, cũng là một đặc trưng của thôn Vĩ - kết cấu nhà vườn: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Câu thơ vang lên như một tiếng reo đầy ngạc nhiên. Từ “ai” rất tình tứ, tràn đầy thương nhớ lại bảng lảng sương khói của hoài niệm. Tác giả chọn tả sắc xanh của vườn để làm bật lên sức sống của cảnh vật “Mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt” ánh lên vẻ mượt mà, óng ả, xuân sắc. “Xanh như ngọc” là một hình ảnh so sánh lung linh. Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc lớn, không chỉ rời rợi sắc xanh mà cũng đang toả vào ban mai những ánh xanh nữa.
++ Con người xứ Huế rất đẹp trong cảnh vườn. "Lá trúc che ngang mặt chữ điền” gợi nên vẻ đẹp của con người xứ Huế rất phúc hậu, thuần phác, kín đáo, gợi nên sự hài hoà giữa thiên nhiên và con người.
+ Nỗi niềm tâm sự của nhà thơ:
++ Câu thơ mở đầu là một câu hỏi, một lời mời, cũng là một nhắc nhở hay tự mời, tự nhắc nhở. Nó cũng có thể là một lời trách nhưng không phải là trách móc mà là trách hờn, trách không phải để truy tìm nguyên nhân mà là trách để gợi
nhớ, để gợi yêu thương. Câu thơ cũng tha thiết với hai chữ “về - chơi”, như một sự trở về ấm áp với gia đình, với quế hương. Nhưng lại cũng đau xót, ngậm ngùi với hai chữ “không - về”, hàm ý của việc không bao giờ có thể trở về.
++ Trong bức tranh thôn Vĩ, mỗi câu, mỗi hình ảnh đều ẩn giấu trong đó nỗi niềm tâm sự của nhà thơ. “Nắng mới” thầm kín một khao khát được bắt đầu lại từ đầu, từ “ai” tình tứ thể hiện một khao khát gắn bó. Hình ảnh của con người ở câu thơ thứ tư là người thôn Vĩ nhưng cũng có thể chính là thi sĩ. Thi sĩ đã tự vẽ minh trên trang thơ trong chuyến trở về cuộc đời thầm lén, nép ngoài rào trúc mà ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Giống như một kẻ đứng ngoài với một cái nhìn tha thiết.
++ Hơn hết, phải có mối ân tình sâu sắc, đậm đà với Vĩ Dạ, thi sĩ mới lưu được trong tâm trí những hình ảnh đẹp đẽ, sống động như thế. Thôn Vĩ cũng là hình ảnh của một thiên đường trần gian, một thiên đường đã mất đối với Hàn Mặc Tử, thể hiện khao khát cháy bỏng, ước mơ trở về cuộc đời của thi sĩ.
-     Khổ thơ thứ hai:
+ Bức tranh sông nước, mây trời xứ Huế:
-H- Bức tranh sông nước xứ Huế chia lìa, tan tác, ngưng đọng một nỗi sầu buồn. “Buồn thiu” là nỗi buồn tràn ngập, một nỗi buồn hiu hắt, một nỗi buồn dằng dặc. Sông nước như ngưng đọng, lặng lờ, lưu cữu nỗi buồn nên nỗi buồn càng xoáy sâu. Câu thơ có chuyển động nhưng là chuyển động rất nhẹ “hoa bắp lay”. Động thái “lay” tự nó không vui, không buồn nhưng trong hoàn cảnh nảy, nó gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng. Đó là nét buồn phụ hoạ với gió mây, sông nước, thấm thìa và đơn côi.
++ Bức tranh sông nước thanh sáng, huyền ảo với thuyền trăng, sông trăng, bến trăng. Cảnh sông nước như chìm trong cõi mơ, cõi mộng, đầy ánh sáng.
+ Nỗi niềm tâm sự của thi nhân:
++ Ẩn sâu trong nỗi buồn của cảnh là tâm trạng của thi nhân. Gió và mây vốn dĩ luôn đi cùng “Mây bay gió quyến mây bay” (Thế Lữ) nhưng ở đây cũng phân li. Sự chia lìa cả những thứ tưởng như không thể chia lìa. Cũng như con người, tưởng rằng tình yêu sẽ gắn kết vĩnh viễn nhưng thi sĩ cuối cùng vẫn bị bứt ra khỏi cuộc đời. Câu thơ dường như mang bi kịch chia li của Hàn Mặc Tử. Hương Giang không thể tự buồn mà bởi thi nhân đã bỏ buồn vào lòng sông. Nó phảng phất nỗi u uẩn của lòng thi sĩ, trước sự lạnh lùng, xa cách của cuộc đời với chính mình.
++ Cảnh sông trăng, bến trăng đẹp và mơ mộng nhưng ở chiều sâu lại khát vọng đoàn tụ và bi kịch đớn đau của thi sĩ. “Tối nay” như một thời điểm định mệnh, một sự truy sát gắt gao của thời gian. Thi sĩ muốn đưa vầng trăng đi cùng trong chuyến viễn du trở về với thực tại như một nỗ lực cuối cùng để quay lại với cuộc đời. Chữ “kịp” kia ẩn chứa bao đau thương, bi kịch. Thi sĩ đã hoàn toàn lỡ nhịp, lỡ chuyến với cuộc đời.
-     Khổ thơ thứ ba:
+ Bức tranh sương khói xứ Huế: Sương khói xứ Huế bảng lảng một sắc màu huyền ảo, mơ hồ “sương khói mờ nhân ảnh”. Người con gái Huế với sắc áo trắng thể hiện một vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết
+ Nỗi niềm tâm sự của nhà thơ:
++ Câu thơ thứ nhất mở ra bằng “mơ” như một sự chợt tỉnh ra, tất cả chỉ là một giấc mơ, một hoài vọng. Giấc mơ đã kết thúc, chỉ còn thực tại ở lại. Điệp ngữ “khách đường xa” vang lên gấp gáp, khắc khoải khiến cho khoảng cách đó càng vời vợi, cách ưở.
++ Hình ảnh em chính là hiện thân của cuộc đời say đắm nhất mà thi sĩ luôn khao khát. Đó là thế giới ước mơ, Hàn Mặc Tử không thể quay về được nữa.
+4- Câu thơ thứ ba hiện hình là một thế giới tương phản với thế giới được vẽ ra ở khổ một, đó là thế giới sương khói, u ám, ảm đạm, “Ở đây” - trong này - <     cách biệt, đau thương, bị đày đoạ, đối lập với “ngoài kia” - thiên đường cuộc đời.
Thế giới ấy dường như đang xoá mờ dần đi mối liên hệ của thi sĩ với cuộc đời “mờ nhân ảnh”.
++ Câu thơ cuối chứa đựng sự cầu xin được chia sẻ, được gắn bó bởi dường như thi sĩ đó cố công gắn kết “em” và “anh” trong một từ “ai” tuy hai mà một, Nhưng ngay sau đó là một sự hụt hẫng, chới với, day dứt, một câu hỏi đau đớn I     “có đậm đà”, tình người đằm thắm hay không, hay cũng mờ ảo, dễ tan như sương
khói. Ngoài kia, với Hàn Mặc Tử luôn khó nắm bắt và xa vời. Cho nến đọng lại trong câu thơ là nỗi cô đơn, trống vắng mênh mang,

c.       Đánh giá chung (0,25 điểm):
-      Bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ Hàn Mặc Tử, khắc họa vẻ đẹp thơ mộng, tươi trẻ, đầy sức sống của thôn Vĩ, đồng thời thể hiện tình yêu đời, yêu người nhưng đầy ưu tư, uẩn khúc của nhà thơ.
-       Bút pháp tả thực cùng các hình ảnh tượng trưng, ngôn ngữ giản dị mà hàm súc đã góp phần hoàn thiện chỉnh thể bài thơ.

d.       Liên hệ hình ảnh Lor-ca, thể hiện suy nghĩ về số phận, khát vọng của người nghệ sĩ (0,75 điểm):
-      Hình ảnh của Lor-ca trong bài thơ “Đàn ghi-ta của Lor-ca”: Thanh Thảo đã khắc họa hình ảnh của Lor-ca là người nghệ sĩ vĩ đại,  một nhà cách tân nghệ thuật, một chiến sĩ đấu tranh chống lại chế độ độc tài. Cái chết bất ngờ kéo đến, khủng khiếp và dữ dội, đau thương và bi thảm (áo choàng bê bết đỏ, tiếng ghi-ta ròng
ròng máu chảy...) nhưng người nghệ sĩ vẫn ung dung đi vào cõi vĩnh hằng. Nguyện ước duy nhất gửi lại hậu thế là khát vọng nghệ thuật bất tử, là mong muốn thực sự ra đi để không cản trở thế hệ sau bước tiếp trước con đường cách tân nghệ thuật.
-      Mặc dù khác nhau về hoàn cảnh, thời đại, dân tộc nhưng nghệ thuật là lĩnh vực không biên giới, không giới hạn nên trong nỗi niềm của Hàn Mặc Tử và tâm huyết Lor-ca vẫn có điểm tương đồng. Họ đều là hình ảnh tiêu biểu cho những
người nghệ sĩ chân chính phải chịu số phận đau thương, bất hạnh. Nhung ở họ không bao giờ nguôi khát vọng được cống hiến, được sáng tạo và tình yêu đời thiết tha, mãnh liệt. Chính điều này là cội nguồn để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật bất hủ, tô điểm cho cuộc sống và làm đẹp tâm hồn con người.

Có thể bạn quan tâm: Cảm hứng nghệ thuật: Đàn ghi của Lorca và Vũ Như Tô

4.       Chinh tả, dùng từ, đặt câu (0,25 điểm):
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa Tiếng Việt.

5.      Sáng tạo (0,5 điểm):
Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Xem thêm >>> Bức tranh thiên nhiên trong "Đây thôn Vĩ Dạ"

Trên đây là bài viết Cunghocvui gửi đến bạn về cảm nhận của Hàn Mặc Tử về số phận và khát vọng của người nghệ sĩ nói chung và ông nói riêng. Mong rằng bài viết sẽ có ích cho quá trình ôn luyện của bạn.