Soạn bài Cha con nghĩa nặng - Soạn văn lớp 11

Hướng dẫn giải

1. Đọc kĩ đoạn trích, gắn phần tóm tắt truyện ở trên với diễn biến sự việc trong đoạn trích thành một mạch truyện xuyên suốt.

  Câu chuyện kể về cha con của Trần Văn Sửu một người cha nặng ân tình với con, ông đã lẻn về thăm con những rồi sợ liên lụy tới con lên đã định nhảy sông tự tử, sự đợi chờ dõi theo cuộc sống của con và ông ngoại đã làm cho ông có thêm một chút niềm tin để sống, ông mong chờ sẽ có ngày gặp con. Trần Văn Tý là một người con có hiếu không ghét bỏ mà hết mực yêu thương cha, bài đã thể hiện một tình cảm cha con sâu nặng và mang giá trị nhân đạo sâu sắc.

2. Phân tích, làm rõ tĩnh nghĩa cha con trong đoạn trích.

 Tình cảm của cha đối với con

Mở dầu đoạn trích là cảnh Trần Vãn Sửu gặp lại cha vợ mình. Vốn thật thà, chất phác, yêu vợ thương con nhưng vô tình làm vợ chết, người nông dân này phải trốn tránh biệt tăm suốt 11 năm trời rmới dám lén lút trở về. Trong 11 năm lưu lạc, đóng giả người dân tộc sông chui lủi  xứ người khổ cực, anh luôn mang nặng trong lòng những nỗi dằn vặt về tinh thần. Cũng chính vì những nỗi dằn vặt ấy mà anh đã mạo hiểm trở về làng.

Là một con người đôn hậu vị tha, Trần Văn Sửu có một tấm lòng đại lượng hiếm có. Anh sẵn sàng bỏ qua, tha thứ tội lồi của vợ, kẻ lăng loàn đã trực tiếp gây nên sự bất hạnh cho anh và các con. Nhưng Trần Văn Sửu lại không dễ tự tha thứ. Anh luôn mang mặc cảm về tội lỗi của mình là đã gây nên cái chết của vợ.

Bởi vậy, gặp lại cha vợ anh vẫn nói: "Con thương vợ con lắm”... Gặp con thấy nó có ý “phiền trách” mẹ, anh đã phân trần khuyên con: “Má con có quấy là quấy với cha, chớ không quấy với con... Mà má con làm quấy thì sự chết đó đã chuộc cái quấy hết rồi, sao con còn nhớ làm chi?”. Nhưng trong đoạn trích này nét nổi bật nhất của Trần Văn Sửu là tình cảm đối với con.

Mười một năm trời trôn tránh, trong khổ cực đổi họ thay tên, sống chẳng khác nào như đã chết, nhưng trong tâm hồn anh, tình yêu thương hướng về cẩc con vẫn ngời sáng. Động cơ duy nhất khiến anh liều lính trở về là hi vọng tha thiết được gặp mấy đứa con. Thật đúng như lời anh với cha vợ: “Mười một năm nay cực khổ hết sức, song ráng mà sống, là vì trông mong có ngày thấy được mặt con”... Anh nói rõ lí do mình “mình muốn chết lắm” nhưng không thể nào chết được vì "thương sắp nhỏ quá”. Lúc này được gặp con đúng là khát vọng nóng bỏng, là mục đích sống của con người bất hạnh này đã thành hiện thực. Bởi vậy, khi thấy Hương Thị Tào, cha vợ, tỏ thái độ kiên quyết yêu cầu mình phải ra đi cho biệt tăm tích ngay, Trần Văn Sửu đã khóc rấm rứt van nài: “Thưa tía, đi thì con đi, con đâu dám cãi. Song tía làm phiền cho con thăm sắp nhỏ một chút rồi con sẽ đi. Mười mấy năm con thương nhớ chúng nó quá tía ơi!”.

Tình cảm của con đối với cha.

Đâu ngờ cuộc câu chuyện trao đổi giữa cha và ông ngoại, Tí đã nghe thây hết, vì này giờ nó đứng rình trong cửa. Khi bi kịch “mẹ chết, cha biệt xứxảy ra, Tí còn nhỏ chưa đủ hiểu, nhưng dần dần lớn. lên, ho vẩn ngầm ý chê trách mẹ và xót thương cha. Bởi vậy khi Trần J§|| Sửu đành lòng đội nón uhươn bả” ra đi, Tí đã chạy theo cha trong đêm khuya vắng. Hành động đâm đầu chạy riết theo cho thấy đứa con này không hề tính toán mà rất kiên quyết đang dấy lên trong lòng Tí một tình cầm mãnh liệt đôi với người cha.

Đến khi hai cha con nhận ra nhau rồi, Trần Văn Sửu khuyên con hày về lo cưới vợ nuôi Ông ngoại, còn riêng mình sẽ đi xa cho biệt tăm tích . Nhưng Tí nhất định không chịu và rất kiên quyết năn nỉ cha trở về : “Bây giờ cha đi đâu con theo đó”. Đứa con hiếu thảo này sẵn sàng hi sinh hạnh phúc riêng của mình để làm tròn tình cảm với cha: “Bây giờ một mình cha nghèo khổ, vậy con phải làm mà nuôi cha chứ con không đành lòng dể cha đi một mình”. Thấy thái độ của con như thế, ông Trần Văn Sửu rât cảm động: “Hai cha con ngồi khít bên nhau cha thì lo, con thì tính, cả hai đều lặng thinh, song một lát, thằng Tỉ đụng cánh tay nó vào cánh tay cha nó một cái dường như nó thảm chừng coi cha nó còn ngồi đó không”. 

3. Để thể hiện chủ đề cha con nghĩa nặng, tác giả đã tạo ra những tình huống nghệ thuật có kịch tính cao. Hãy tìm hiểu và làm rõ tình huống giàu kịch tính đó.

Tình huống đầu tiên là cuộc gặp gỡ giữa Trần Văn Sửu và Hương thị Tào, giữa con rể và cha vợ sau mười một năm không thấy mặt kể từ khi Trần Văn Sửu trong một lúc giận dữ ngộ sát vợ rồi phải bỏ nhà đi biệt xứ. Cuộc gặp gỡ này chắc chắn sẽ khơi dậy nỗi đau lòng thương con gái của ông Hương thị Tào. Để rồi nỗi oán giận con rể cũng theo đó mà bùng lên. Thật vậy, kịch tính đã được đẩy lên cực điểm khi Trần Văn Sửu vừa phân trần vừa van lơn khổ sở: “cúi mặt xuống đất, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng... khóc rẩm rứt... nói bệu bạo...”. Trong khi cha vợ anh xua đuổi quầy quậy, lời lẽ cay đắng: “Mầy chưa chết hay sao? Mầy sống báo hại con mầy chớ sống làm gì? Sống làm chi rồi quan làng họ bắt đây sinh ra chuyện nữa. Mầy thiệt là khốn nạn lắm”.

Nhưng liền đó, mâu thuẫn xung đột được giải quyết và bản chất của nhân vật công bộ lộ rõ. Hương thị Tào thấy rõ trong truyện năm xưa, con gái ông sai: “Con Lựu nó hư nên mày giết nó, bởi vậy tao không phiền mầy”. Có điều ông sợ là sự có mặt của Trần Văn Sửu sẽ phá vỡ hạnh phúc của cháu ngoại ông nên ông muốn nói cho Sửu bỏ đi ngay mà thôi. Chớ tận đáy lòng ông, ông rất hiểu và thương. Nghe con rể phân trần ông cũng động lòng nên ông đứng ngơ ngẩn một hồi rồi cảm động quá, chịu không nổi nên ông cũng khóc. Còn Trần Văn Sửu đã bị đẩy vào cùng đường tuyệt vọng nhưng khi nghe cha vợ phân bày mọi đường thì lập tức anh có thái độ dứt khoát: “Tía nói phải lắm" rồi vùng đứng dậy... chắp tay xá cha vợ rồi đội nón lên, bươn bả bước ra lộ”. Trần Văn Sửu đã tự nguyện hi sinh tình cảm riêng của mình để bảo vệ hạnh phúc cho các con.

Tình huống thứ hai là cuộc gặp gỡ giữa Trần Văn Sửu với thằng Tí con anh. Một cành tưởng đặc biệt giàu kịch tính. Trần Văn Sử và cha vợ trò chuyện bí mật không để thằng Tí lén nghe hết. Tí chạy theo tìm cha, nhưng anh Sửu tưởng lầm là “làng tổng rượt theo bắt"  nên "Co giò mà chạy". Oái ăm một điều là cha sợ bị bắt nên cố chạy.Còn con sợ mất cha nên càng cố sức đuổi khi con không theo kịp, cha ngồi lại mới toan tính: “Vậy chết rồi, chết mới quên hết chuyện cũ được, chết đặng hết buồn hết cực khổ nữa”, rồi anh “chui đầu qua lan can cầu”. Người đọc vừa hồi hộp thì thằng Tí đã chạy tới nói: “Phải cha đó không cha?”. Thế là họ gặp nhau trong vui mừng mà tràn đầy ngậm ngùi buồn tủi. Cha thì muốn ra đi đề giữ gìn hạnh phúc cho con. Con thì muốn dược gần gũi phụng sự cha, ai cũng muốn hứng chịu thiệt thòi về mình.

Những tình huống giàu kịch tính như vậy không những lôi cuốn người đọc mà qua đó còn giúp các nhân vật trong truyện bộc lộ tính cách , tâm trạng thể hiện qua những mâu thuẫn phức tạp giằng xé, ca ngợi tình cảm cha con, một tình cảm có ý nghĩa nhân bản lớn.

4. Qua nhân vật Trần Văn Sửu và thằng Tí, hãy nêu lên vài cảm nhận về tính cách con người Nam Bộ.

Trả lời:

- Nhân vật người con Trần Văn Tí chứng tỏ tính cách mạnh mẽ không chịu bó tay trước hoàn cảnh. Tí đã đưa ra lối thoát cho tình huống tưởng chừng bế tắc, làm yên lòng mình, dịu được lòng cha, vẹn được nhiều bề dù trước mắt còn nhiều khó khăn phức tạp.

- Nhân vật người cha và con thể hiện tính cách của người Nam Bộ mạnh mẽ và kiên quyết. Tính cách ấy được thể hiện nổi bật nhất qua diễn biến tâm lí nhân vật, qua lời đối thoại và độc thoại.

5. Nhận xét về nghệ thuật kể chuyện, miêu tả nhân vật, sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích.

 Về ngôn ngữ nghệ thuật của đoạn trích ưu điểm là nhà vãn đã diễn đạt một cách giản dị mộc mạc, gần gũi với ngôn ngữ đời thường của người nông dân Nam Bộ

 Ngôn ngữ nhân vật cùng ngôn ngữ người kể chuyện gắn với đời sống. Đặc biệt phương ngôn Nam Bộ được sử dụng nhuần nhuyễn tạo nên màu sắc đặc trưng cho văn phong của Hồ Biểu Chánh.

Bạn muốn xem thêm với

Có thể bạn quan tâm

Soạn bài Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu ghép - Soạn văn lớp 11

I. TRẬT TỰ TRONG CÂU ĐƠN 1. a. Nếu sắp xếp theo trật tự Mđó là một con dao rất sắc, nhưng nhỏ” thì bản thân câu đó không sai vê ngữ pháp, và nội dung ý nghĩa, vì rât sắc và nhỏ là các thành phân Đẳng lập, đồng chức: cùng làm định ngữ cho danh từ con dao. Nhưng đặt vào đoạn văn thì trật tự sáp xếp củ

Soạn bài Bản tin - Soạn văn lớp 11

1. LỰA CHỌN NHỮNG SỰ KIỆN CÓ THỂ VIẾT BẢN TIN. a Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của tỉnh thành phố vừa kết thúc thắng lợi. b Toàn trường đang sôi nổi khẩn trương chuẩn bị cho Hội khoẻ Phù Đổng. c Gia đình một bạn trong lớp vừa ăn mừng nhà mới. d Đoàn Thanh niên Cộng sản Hổ Chí

Soạn bài Vi hành - Soạn văn lớp 11

1. MÂU THUẪN TRÀO PHÚNG CƠ BẢN CỦA TRUYỆN NGẮN VI HÀNH Mâu thuẫn trào phúng: đó là sự nhầm lẫn giữa bản chất bên trong và hình thức bên ngoài, giữa bản chất bù nhìn sa đọa và bản chất việc làm của chính quyền thực dân khi đưa Khải Định sang thăm Pháp. 2. MỘT TRONG NHỮNG VẤN ĐỀ THEN CHỐT CỦA NGHỆ TH

Soạn bài Tinh thần thể dục - Soạn văn lớp 11

1. BỐ CỤC VÀ CÁCH DỰNG TRUYỆN CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN TRONG TRUYỆN NGẮN TRÀO PHÚNG NÀY CÓ GÌ ĐẶC BIỆT? TRẢ LỜI: A.  Có thể chia truyện ngắn làm ba đoạn: Đoạn 1 từ đầu đến...“Nay sức, Lê Thăng”: Giới thiệu lệnh của trên qua trát quan về làng. Đoạn 2 tiếp đó đến... “Vâng”: Những người bị bắt đi xem đá

Soạn bài Luyện tập viết bản tin - Soạn văn lớp 11

BÀI TẬP 1 Cấu trúc Đầu đề: Việt Nam đứng đầu khu vực châu Á Thái Bình Dương về bình đẳng giới. Nội dung: Bao gồm: sự kiện quan trọng nhất Theo báo cáo... bình đẳng giới và phần còn lại nói rõ, giải thích thêm sự kiện đã nêu. Dung lượng: trên 150 chữ. Bản tin trên đây thuộc loại tin thường. BÀI t

Soạn bài Vĩnh biệt cửu trùng đài - Soạn văn lớp 11

1. CÁC MÂU THUẪN CƠ BẢN CỦA KỊCH VŨ NHƯ TÔ THỂ HIỆN CỤ THỂ NHƯ THẾ NÀO TRONG HỒI V ? Vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng được xây dựng dựa trên hai mâu thuẫn lớn: Một là mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thối nát Lê Tương Dực với nhân dân đang bị bần cùng hóa vì sưu thuế, tạp dịch. Hai là mâu

Soạn bài Chí Phèo ( Phần 2 ) : Tác phẩm - Soạn văn lớp 11

1. CÁCH VÀO TRUYỆN CỦA NAM CAO ĐỘC ĐÁO NHƯ THẾ NÀO? HÃY NÊU Ý NGHĨA TIẾNG CHỬI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG ĐOẠN VĂN MỞ ĐẦU THIÊN TRUYỆN. TRẢ LỜI:  Nam Cao mở đầu truyện bằng một tình huống độc đáo, ấn tượng: Chí Phèo vừa đi vừa chửi, nhưng điều lạ lùng là không có người chửi lại hắn và cũng không có

Soạn bài Phong cách ngôn ngữ báo chí ( tiếp ) - Soạn văn lớp 11

1. PHÂN TÍCH NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NGÔN NGỮ BÁO CHÍ THỂ HIỆN TRONG BẢN TIN SAU.    Ngày 32, tỉnh An Giang long trọng làm lễ đón nhận quyết định của Bộ Văn hoá Thông tin công nhận di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia ô Tà Sóc thuộc xã Lương Phi, huyện Tri Tôn. Đây là di tích cấp quốc gia thứ