Hướng dẫn soạn bài Bài ca ngất ngưởng

Hướng dẫn giải

Câu 1. Trong Bài ca ngất ngưởng, từ "ngất ngưởng" được sử dụng mấy lần? Anh (chị) hãy xác định nghĩa của từ "ngất ngưởng" qua các văn cảnh sử dụng đó?

    Kể cả tên bài, trong Bài ca ngất ngưởng có đến năm lần nhà thơ dùng từ ngất ngưởng.

     Ai cũng biết Nguyễn Công Trứ, tác giả bài này vein là con người có một cá tính độc đáo, nổi bật khác người. Đó là cá tính ngông. Có điều là nhà thơ ngông nghênh, ngất ngưởng, khinh đời, ngạo nghễ trên cơ sở của sự nhận thức rõ rệt về tài năng, phẩm chất và giá trị của bản thân mình.

   - Đoạn đầu, tác giả kể một cách khái quát các chặng đường làm quan và cho biết "Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng". Có thể đoán, sự ngất ngưởng mà ông thể hiện khi làm quan là bản lĩnh coi thường việc làm quan như bị trói buộc hay giam hãm trong lồng cũi. Sở dĩ phải làm quan vì đó là vị trí cần có để nhà nho thực hiện trách nhiệm với đời và do đó, kể cả khi làm quan, ông vẫn giữ lối sống tự do, không chấp nhận ra luồn vào cúi.

    - Ngất ngưởng cũng còn có nghĩa là sống theo ý thích mà không quan tâm đến sự đàm tiếu của dư luận (hai sự việc: cưỡi bò vàng đeo nhạc ngựa và cùng các cô hầu gái lên chùa). Ông khái quát thái độ bình thản của mình trước mọi chuyện được mất, khen chê. Ông muốn là một người tự nhiên, không muốn sống như Tiên, Phật cao siêu mà cũng không phải kẻ phàm tục, tầm thường. Như vậy, ngất ngưởng có ý nghĩa tích cực vì thể hiện bản lĩnh cá nhân, nhất là bản lĩnh này lại được thể hiện trong xã hội Nho giáo đề cao lễ nghĩa, thủ tiêu cá nhân.

Câu 2. Dựa vào văn bản Bài ca ngất ngưởng, anh (chị) hãy giải thích vì sao Nguyễn Công Trứ biết rằng việc làm quan là gò bó, mất tự do (vào lồng) nhưng vẫn ra làm quan.

      Nguyễn Công Trứ biết làm quan và mất tự do. Ông coi chốn quan trường là cái lồng giam hãm con người (Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng). Thế nhưng ông vẫn ra làm quan vì ông quan niệm đó là nơi để thể hiện tài năng và nhiệt huyết cho xã hội, cho triều đình, cho đạo vua tôi nên ông có quyền ngất ngưởng nhất trong triều. Tóm lại, ngất ngưởng thực chất là một phong cách sống tôn trọng sự trung thực, tôn trọng cá tính, không chấp nhận sự khắc kỉ phục lễ, uốn mình theo lễ và danh của Nho giáo.

Câu 3. Ở bài hát nói này, Nguyễn Công Trứ tự kể về mình. Vì sao ông cho mình là ngất ngưởng? Ông đánh giá sự ngất ngưởng của mình như thế nào?

    Sau khi cởi mũ, cáo quan ra khỏi cuộc sống bó buộc chốn quan trường bon chen, Nguyễn Công Trứ có những hành vi kỳ quặc, lập dị đến ngất ngưởng.

   - Người ta cưỡi ngựa đi giao du thiên hạ thì ông cưỡi bò, lại còn đeo cho một cái đạc ngựa khiến cả chủ lẫn tớ đều ngất ngưởng.

   - Đi thăm thú cảnh chùa mà vẫn đeo kiếm cung bên người và mang theo “một đôi dì”. Rõ ràng trong bộ dạng từ bi Nguyễn Công Trứ vẫn vương đầy nợ trần, vẫn đèo bòng đằng sau mấy bóng giai nhân.

 => Cốt cách của một khách tài tử, văn nhân chính là ở đó… Đó là lối sống phá cách của một con người thích làm những chuyện trái khoáy ngược đời để ngạo đời, thể hiện thái độ và khát vọng  sống tự do tự tại.

   - Không bận tâm đến những lời khen chê, những chuyện được mất. Đó là một quan niệm sống, triết lý sống phóng khoáng tự do, thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường. Coi sự được mất là lẽ thường tình, ông đã ra khỏi vòng danh lợi để sống thảnh thơi, tự do, tự tại để hướng mọi lạc thú, cầm, kỳ, thi, tửu, giai nhân giữa cuộc đời trần thế một cách thoả thích.

  =>  Giọng điệu tự thuật khẳng khái, đầy cá tính đã cho thấy ông sòng phẳng, thẳng thắn và có ý thức về cách sống của mình. Nguyễn Công Trứ tự hào vì đã có một cuộc sống hoạt động tích cực trong xã hội. Ông cũng tự hào vì mình dám sống cho mình, bỏ qua sự gò bó của lễ và danh giáo.

Câu 4. Hãy chỉ ra những nét tự do của thể hát nói so với thơ Đường luật và cho biết ý nghĩa của tính chất tự do đó?

   Thể hát nói có những nét tự do, nhất là so với thể thơ Đường luật.

   - Về số câu, tuy thông thường trong một bài hát nói có 11 câu nhưng loại lệ khá nhiều (bài này có 19 câu).

   - Số chữ của mỗi câu cũng không theo quy định cứng nhắc mà uyển chuyển. Câu dài có thể đến 10 chữ, câu ngắn 6 chữ.

   - Về vần, cũng có sự linh hoạt chứ không hạn vận. Có thể có những cặp đối xứng nhau nhưng bài hát nói không quy định chặt chẽ về về đối.

   - Không có luật chính thức về bằng trắc quy định chặt chẽ như thơ Đường luật.

   Do tính chất khá tự do nên bài hát nói thích hợp với việc diễn tả những cảm xúc mạnh mẽ, khoáng đạt, phóng túng như lối sống ngất ngưởng.



 

Bạn muốn xem thêm với

Có thể bạn quan tâm

Soạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945 - Soạn văn lớp 11

CÂU 1: Hiện đại hóa văn học là quá trình làm cho văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại và đổi mới theo hình thức của văn học phương Tây, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại trên thế giới. Những nhân tố tạo điều kiện cho nền văn học Việt Nam từ đầu TK XX đến Cách mạng tháng

Hướng dẫn soạn bài Lẽ ghét thương

CÂU 1. ANH CHỊ HÃY ĐỌC CÁC CHÚ THÍCH, TÌM ĐIỂM CHUNG GIỮA CÁC ĐỜI VUA MÀ ÔNG QUÁN GHÉT VÀ NHỮNG CON NGƯỜI MÀ ÔNG QUÁN THƯƠNG. TỪ ĐÓ HÃY NHẬN XÉT VỀ CƠ SỞ CỦA LẼ GHÉT THƯƠNG THEO QUAN ĐIỂM ĐẠO ĐỨC CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU?     Vì chưng hay ghét cũng là hay thương ý nói: Biết ghét là vì biết thương. Vì t

Hướng dẫn soạn bài Bài ca ngắn đi trên bãi cát

CÂU 1. PHÂN TÍCH Ý NGHĨA TƯỢNG TRƯNG CỦA CÁC YẾU TỐ TẢ THỰC HÌNH ẢNH NGƯỜI ĐI TRÊN BÃI CÁT?     Những yếu tố tả thực:   + Hình ảnh bãi cát được nhắc đi nhắc lại điệp ngữ   + Mờ mịt, núi muôn lớp, sóng muôn đợt, một sa mạc cát mênh mông vô tận, bãi cát lại bãi cát, một người đi đến mặt trời lặn vẫn c

Hướng dẫn soạn bài Câu cá mùa thu

CÂU 1. ĐIỂM NHÌN CẢNH THU CỦA TÁC GIẢ CÓ GÌ ĐẶC SẮC? TỪ ĐIỂM NHÌN ẤY, NHÀ THƠ ĐÃ BAO QUÁT CẢNH THU NHƯ THẾ NÀO? Điểm nhìn:  Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: điểm nhìn cảnh thu là chiếc thuyền câu nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với

Hướng dẫn soạn bài Thương vợ

CÂU 1. CẢM NHẬN CỦA ANH CHỊ VỀ HÌNH ẢNH BÀ TÚ QUA BỐN CÂU THƠ ĐẦU? CHÚ Ý NHỮNG TỪ NGỮ CÓ GIÁ TRỊ TẠO HÌNH, HÌNH ẢNH CON CÒ TRONG CA DAO ĐƯỢC TÁC GIẢ VẬN DỤNG MỘT CÁCH SÁNG TẠO.    Hai câi đề nói sự lam lù, nhản nại của bà:                                                Quanh năm buôn bán ở mom sồng,

Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia- Soạn văn lớp 11

1. HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA LÀ MỘT PHẦN CỦA NHAN ĐỀ CHƯƠNG XV TIỂU THUYẾT SỐ ĐỎ DO CHÍNH VŨ TRỌNG PHỤNG ĐẶT. ANH CHỊ CÓ SUY NGHĨ GÌ VỀ NHAN ĐỀ NÀY VÀ TÌNH HUỐNG TRÀO PHÚNG CỦA ĐOẠN TRÍCH? Cách đặt tên nhan đề rất lạ, gây cảm giác tò mò, chú ý cho người đọc và cũng thể hiện một nghịch lí nực cười:

Hướng dẫn soạn bài Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm

CÂU 1: ĐOẠN THƠ TRÌNH BÀY SỰ CẢM NHẬN VÀ LÍ GIẢI CỦA TÁC GIẢ VỀ ĐẤT NƯỚC. HÃY CHIA BỐ CỤC, GỌI TÊN NỘI DUNG TRỮ TÌNH CỦA TỪNG PHẦN, TÌM HIỂU TRÌNH TỰ TRIỂN KHAI MẠCH SUY NGHĨ VÀ CẢM XÚC CỦA TÁC GIẢ TRONG ĐOẠN VĂN TRÊN.    Đoạn trích trình bày sự cảm nhận và lí giải của Nguyễn Khoa Điềm về đất nước.