Soạn bài Viết bài làm văn số 1 : Văn thuyết minh - Soạn văn lớp 9

Hướng dẫn giải

Đề văn tham khảo

Đề 1 :Cây lúa Việt Nam.

Đề 2 : Cây ... quê em.

Đề 3 : Một loài động vật hay vật nuôi ở quê em.

Đề 4 : Một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh quê em.

BÀI ĐỌC THAM KHẢO

                                      CÂY TRE VIỆT NAM

   Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân cửa nhân dân Việt Nam.

   Nước Việt Nam xanh muôn ngàn cây lá khác nhau. Cây nào cũng đẹp, cây nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa. Tre Đồng Nai, nửa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, lũy tre thân mật làng tòi,... đâu đâu ta cũng có nứa tre làm bạn.

   Tre, nứa, trúc, mai, vầu mấy chục loại khác nhau nhưng cùng một mầm non măng mọc thẳng. Vào đâu tre cũng sống, ở đâu tre cũng xanh tốt. Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn. Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị, chí khí như người.

   Nhà thơ đã có lần ca ngợi:

                                 Bóng tre trùm mát rượi.

   Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Dưới bóng tre cùa ngàn xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn  với người, đời đời, kiếp kiếp. Tre, nứa, mai, vầu giúp người trăm nghìn công việc khác nhau. Tre là cánh tay của người nông dân:

                             "Cánh đồng ta năm đôi ba vụ

                              Tre với người vất vả quanh năm."

   Tre với người như thế đã mấy nghìn năm. Một thế kỉ “văn minh”, “khai hóa” của thực dân cũng không làm ra được một tấc sắt. Tre vẫn phải còn vất vả mãi với người. Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.

   Trong mỗi gia đình nông dân Viêt Nam, tre là người nhà, tre khăng khít với đời sống hằng ngày.

   Giang chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt như những mối tình quê cái thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa:

                              “Lạt này gói bánh chưng xanh
                        Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng...”

    Tre còn là niềm vui duy nhất của tuổi thơ. Các em bé còn có đồ chơi gì nữa ngoài mấy que chuyền đánh chắt bằng tre.

    Tuổi già hút thuốc làm vui. Với chiếc điếu cày tre là khoan khoái. Nhớ lại vụ mùa trước, nghĩ đến những mùa sau, hay nghĩ đến một ngày mai sè khác...

   Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nằm trên giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau, chung thủy.

   Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất.

   Người xưa cổ câu: "Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Tre là thẳng thắn, bất khuất ! Ta kháng chiến, tre lại là đồng chí chiến đấu của ta. Tre vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc.

   Buổi đầu, không một tấc sắt trong tay, tre là tất cả, tre là vũ khí. Muôn ngàn đời biêt ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng lên thành đồng Tổ quốc! Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre.

   Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh dể bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu !

   (...) Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc đồng quê. Nhớ một buổi trưa nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê.

                             Diều bay, diều lá tre bay lưng trời ...

                             Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời ...

                             Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều.

   Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre,...

   “Tre già măng mọc". Măng mọc trên phù hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lứa măng non của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép và xi măng cốt sắt. Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam, chia bùi sẻ ngọt, của những ngày mai tươi hát còn mãi với chúng ta, vui hạnh phúc, hòa bình.

   Ngày mai trên đất nước này, sắt, thép có thể nhiều hơn tre, nứa. Nhưng, trên đường trường ta dấn bước, tre xanh vẫn là bóng mát. Tre vẫn mang khúc nhạc tâm tình. Tre sẽ càng tươi những cổng chào thắng lợi. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng. Tiếng sáo diều tre bay vút mãi.

   Cây tre Việt Nam! Cây tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam.

                                                                                              ( Thép Mới )

                           VIỆT NAM ƠI, TA LẠI GỌI TÊN MÌNH!

    Quốc gia nào hình như cũng có một loại cây hay một loạỉ hoa tượng trưng cho canh quan, con người vò linh hổn văn hóa. Nước Nga có cây bạch dương, Trung Quốc - cây tùng, Nhật Bản - hoa Anh đào, Lào - hoa Chăm pa, Cam-pu-chia - cây thốt nốt, v.v... Biểu tượng cho đất nước, con người và văn hóa Việt Nam là cây tre giản dị, thanh cao, dẻo dai và vừng chắc đã nghìn dời.

   Tre xanh, xanh tự bao giờ... Từ thuở các vua Hùng dựng nước, truyền thuyết đã nói đến cây tre. Tre, giang, nứa, trúc, mai, vầu rồỉ tầm vông,... mếy chục loại khác nhau cùng gia phả. Cây tre - cây vù trụ, cây linh hồn người Việt!

   Làng quê, xóm mạc nào của Việt Nam chẳng có lũy tre. Cùng với cây đa, bến nước, cổng làng, đình chùa, lũy tre là cảnh quan, hơn nữa là điểm nhân cảnh quan, cây trúc của làng, phóng to lên là của nước. Nó là tín hiệu đầu tiên để nhận ra làng. 'Rặng tre như mái tóc, lại như thắt lưng xanh cùa làng. Và như cánh tay, cặp mắt của làng đón bình minh buổi sớm, tiễn Mặt Trời lúc hoàng hôn, tình tự với ánh'trăng và sao trời buổi tôi. Từ lũy tre làng, những cánn cò trắng phau bay lả bay la ra đồng ruộng, mang cái ngủ về đậu trên cánh võng tuổi thơ. Đường quê, ngõ quê âu yếm, mát rượi bóng tre. Chưa bao giờ làng quê đói thiên nhiên như phố thị. Trong văn hóa ở, con người làng quê luôn luôn hòa hợp bầu bạn với cây tre, với thiên nhiên.

   Những lũy tre ôm cuộc đời của làng, của nước. Mùa mưa bão, tre là phên giậu, tấm chắn vĩ đại, bờ đê thiên nhiên khổng lồ cùng người chống bão. Nước có giặc, những lũy tre làm chiến bào, thành lũy của cả cộng đồng. Tre trong lũy luôn ấm bụi, đán cài, như lòng người, thế trận. Đòn gánh tre bao lần gánh đất nước trên vai. Lũy tre, chông tre, gậy tre, gậy tầm vông đã bao lần khiến kẻ thù kinh sợ. Năm xưa, người anh hùng làng Gióng làm gậy tre đuổi giặc. Roi sắt gãy chứ gậy tre không gãy. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, tre đi dân công, tre ra hỏa tuyến, tre mở đường, kéo pháo, kiên trung và bất khuất xung phong vào xe táng, đại bác kẻ thù. Những lũy tre, gậy tre, chông tre khẳng định nước Việt Nam là một, từ ải Nam Quan đến chót mũi Cà Mạu, cây số không nơi biên ải cũng là phần xương thịt cụ thể của đất nước, dân tộc vạn xuân này.

   Những lũy tre ôm cuộc đời của mỗi con người. Tre giúp người dựng nhà, dựng cửa, khẩn ruộng, làm vườn. Cây nêu bằng tre cắm trước sân nhà ngày Tết khẳng định chủ quyền đất đai hương hỏa của ông bà, các loại quỷ ma khó lòng đụng tới. Từ chiếc chõng tre, giường tre, bao thế hệ đã lớn lên... Lớn lên nhờ đôi đũa tre trong những bữa ăn đạm bạc mà ríu rít sum vầy của mỗi gia đình. Lớn lên nhờ nồi nước xông lá ngải cứu, lá sả, lá tre của mẹ.

   Lớn lên từ chiếc đòn gánh tre chịu thương chịu khó, nhẫn nại, tảo tần và chiếc thuyền nan dọc ngang sông nước. Lớn lẽn nhờ sợi lạt giang gói bánh chưng xanh, gói ghém nhừng đặc sắc cùa nền vãn minh lúa nước. Lớn lên cùng tiếng sảo trúc, sáo tre vi vút lưng trời, cây đu đều nhịp nhún vít vổng ngày xuân.

   Con mắt tre đánh dấu từng tuổi lớn...

   Từ cây tre thấy hình của nước. Từ cây tre thây hình của người. Tre và làng nước lớn lên trong gian lao, vất vả. Chiến tranh. Lũ lụt. Hạn hán. Ớ đâu, mùa nào, tre cũng mọc xanh tươi. Tre rút ruột mà xanh, vắt mình mà biếc. Máu tre chắt hết cho thân cành và lá.

   Thân tre thanh nhưng cứng cáp, dẻo dai. Người Việt Nam có câu: “Trúc dầu cháy, đốt ngay vần thẳng”. Tre, trúc tượng trưng cho khí tiêt con người, thẳng ngay, bất khuất.

   Là thẳng ngay, tre được dùng làm thước. Là thẳng ngay, chắc nịch, tre làm roi quất kẻ phạm phép nước, phép làng...

   Nhìn cây tre, con người suy ngẫm, triết lí : “Tre già măng mọc”, “Tre non dễ uốn”, “Lạt mềm buộc chặt”, “Vợ chồng như đũa có đôi”,...

   Tre giúp người nói những tâm tình:

"Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng. Tre non đủ lá đan sàng được chăng? Đan sàng thiếp củng xin vâng. Tre xanh đủ lá non chăng hỡi chàng?

"Lạt này gói bánh chưng xanh. Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng."

   Thế kỉ XXI, những kĩ nghệ sắt thép, xi măng chỉ có ý nghĩa công năng chứ không mang kí hiệu văn hóa. Tre là lối vào lịch sử và văn hóa Việt Nam...

   Tre vẫn xanh trên đường quê, xóm ngõ. Tre nuôi cái giản dị, thanh cao, ngay thẳng của hồn người. Lũy tre làng là điểm cuối của cuộc tiễn đưa và điểm đầu của lần gặp lại, mỗi khi ta xa quê, về quê. Tre trĩu nặng trải nghiệm và tâm tưởng. Tre theo người ra thành phố làm đẹp những công viên, những ngôi nhà và gìn giữ hồn quê, nết quê. Những vật dụng trúc, mây, tre vẫn theo những con tàu, tự tin và tự hào đến với bạn bè quốc tế. Tiếng sáo tre vẫn say lòng bạn, lòng ta. Và tre vẫn là thành lũy kiên trung, vững vàng của Tổ quốc chúng tôi...

   Ơi hàng tre xanh xanh Việt Nam, Giông tố mưa sa đứng thẳng hàng.. Lăng Bác đó và hàng tre trước Quảng trường Ba Đình lịch sử! Tre xanh xanh, tre hùng thiêng đứng bên Người, chỉnh tề đội ngũ. Ta gọi Bác, gọi tr xanh, gọi hồn dân tộc: “Việt Nam ơi, ta lại gọi tên mình ! " (Tố Hữu).

 

Đề 3: Một loài động vật hay vật nuôi ở quê em. (Gợi ý: Thuyết minh về con trâu ở làng quê Việt Nam)

I – Mở bài:

– Giới thiệu chung về hình ảnh con trâu trên đồng ruộng, làng quê Việt Nam.

II – Thân bài:

1. Nguồn gốc, đặc điểm của loài trâu:

– Trâu Việt Namcó nguồn gốc từ trâu rừng thuần hóa, thuộc nhóm trâu đầm lầy.

– Là động vật thuộc lớp thú, lông trâu có màu xám, xám đen; thân hình vạm vỡ,thấp, ngắn; bụng to; mông dốc; đuôi dài thường xuyên phe phẩy; bầu vú nhỏ; sừnghình lưỡi liềm…

– Trâu mỗi năm chỉ đẻ từ một đến hai lứa, mỗi lứa một con…

2. Lợi ích của con trâu:

a. Trong đời sống vật chất:

– Trâu nuôi chủ yếu để kéo cày, bừa, giúp người nông dân làm ra hạt lúa, hạtgạo.

– Là tài sản quý giá của nhà nông.

– Cung cấp thịt; cung cấp da, sừng để làm đồ mĩ nghệ…

b. Trong đời sống tinh thần:

– Trâu là người bạn thân thiết với tuổi thơ của trẻ em ở nông thôn một buổi đihọc, một buổi đi chăn trâu:thổi sáo, đọc sách, thả diều, đánh trận giả khi chăntrâu…

*Bổ sung hai câu thơ của nhà thơ Giang Nam viết về tuổi thơ chăn trâu:

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

– Con trâu với lễ hội ở Việt Nam:

+ Hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng.

+ Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên.

+ Là biểu tượng của Sea Game 22 Đông Nam Á được tổ chức tại Việt Nam.

+…

III – Kết bài:

– Khẳng định lại vai trò của con trâu trong đời sống người nông dân ở làng quêViệt Nam.

– Nêu suy nghĩ, tình cảm của bản thân.

 

Đề 4: Một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh quê em.

I. Mở bài

- Giới thiệu: Trên đất nước Việt Nam thân yêu có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhưng có lẽ tiêu biểu nhất chính là Vịnh Hạ Long.

II. Thân bài

1. Nguồn gốc, xuất xứ

- Hạ Long nghĩa là “nơi rồng đáp xuống”. Tên gọi Hạ Long đã thay đổi qua nhiều thời kỳ lịch sử, thời Bắc thuộc khu vực này được gọi là Lục Châu, Lục Hài. Các thời Lý, Trần, Lê Vịnh mang các tên Hải Đông, An Bang, Vân Đồn, Ngọc Sơn hay Lục Thủy. Tên Hạ Long mới xuất hiện trong một số thư tịch và các bán đồ hàng hải của Pháp từ cuối thế kỷ 19.

- Theo tài liệu của người Pháp:

+ Trên tờ Tin tức Hải Phòng xuất bản bằng tiếng Pháp có bài viết về sự xuất hiện của sinh vật giống rồng trên khu vực là vịnh Hạ Long ngày nay, khi viên thiếu úy người Pháp Legderin, thuyền trưởng tàu Avalence cùng các thủy thủ bắt gặp một đôi rắn biển khổng lồ ba lần (vào các năm 1898, 1900 và 1902).

+ Có lẽ người Châu Ảu đã liên tưởng con vật này giống như con rồng châu Á. loài vật huyền thoại được tôn sùng trong văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa các nước châu Á nói chung và đó là lý do khiến vùng biển đảo Ọuảng Ninh được người Pháp gọi bằng cái tên vịnh Hạ Long tên đó tồn tại đến ngày nay.

- Theo truyền thuyết dân gian Vìêt Nam:

+ Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam: trong tâm thức của người Việt từ thời tiền sử với trí tưởng tượng dân gian và ý niệm về cội nguồn con Rồng cháu Tiên, một số truyền thuyết cho ràng khi người Việt mới lập nước đã bị giặc ngoại xâm, Ngọc Hoàng sai Rồng Mẹ mang theo một đàn Rồng Con xuống hạ giới giúp người Việt đánh giặc. Thuyền giặc từ ngoài biển ào ạt tiến vào bờ vừa lúc đàn Rồng tới hạ giới. Đàn Rồng lập tức phun ra lửa thiêu cháy thuyền giặc, một phun nhả Châu Ngọc dựng thành bức tường đá sừng sừng làm cho thuyền giặc đâm phải mà vỡ tan, chặn đứng bước tiến của ngoại bang.

2. Kết cấu

Sau khi giặc tan, thấy cảnh mặt đất thanh bình, cây cối tươi tốt, con người nơi đây lại cần cù, chịu khó, đoàn kết giúp đỡ nhau, Rồng Mẹ và Rồng Con không trở về trời mà ở lại hạ giới, nơi vừa diễn ra trận chiến để muôn đời bảo vệ con dân Đại Việt. Vị trí Rồng Mẹ đáp xuống là Hạ Long; nơi Rồng Con đáp xuống là Bái Tử Long và đuôi đàn rồng quẫy nước trắng xoá là Bạch Long Vĩ (bán đảo Trà Cổ ngày nay, với bãi cát dài trên 15 km).

- Vịnh có rất nhiều hang động, có động nước và động khô

- Bên trong những hang động có rất nhiều đá vôi.

- Có rất nhiều đảo và cồn đá.

- Mặt nước ở Vịnh Hạ Long rất đẹp, những làn sóng nhẹ nhàng đánh vào bờ tạo nên một khung cảnh thơ mộng khi bạn đứng ngắm Vịnh Hạ Long.

- Chiều về bạn có thể thấy hoàng hôn từ phía phản chiếu lên mặt nước như đang có đến tận hai mặt trời.

- Từ trên cao nhìn xuống, Vịnh Hạ Long như một bức tranh tuyệt hảo do thiên nhiên tạo thành gồm có những hang động và những hòn.

- Bên trong là những hang động người ta có thể tham quan, ngắm cảnh.

- Có những thạch nhũ có hình thù kì lạ do thiên nhiên tạo ra bên trong hang.

- Vịnh Hạ Long nhìn từ xa thấy như những người lính khổng lồ canh giữ biển Việt Nam.

- Vì thế, mà Vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.

3. Ý nghĩa

- Vịnh Hạ Long là một trong những tài sản vô giá của đất nước Việt Nam thân yêu.

- Ngoài ý nghĩa là một cảnh đẹp, nó còn tượng trưng cho nét đẹp hồn hậu của con người Việt Nam mỗi khi du khách ghé thăm.

III. Kết bài

- Vịnh Hạ Long đúng là một cảnh đẹp thiên nhiên trên thế giới.

- Tôi tự hào là một người ở Quảng Ninh và sở hữu một cảnh đẹp thiên nhiên thế giới.

Bạn muốn xem thêm với

Có thể bạn quan tâm

Hướng dẫn soạn bài con cò

CÂU 1. BÀI THƠ PHÁT TRIỂN TỪ MỘT HÌNH TƯỢNG BAO TRÙM LÀ HÌNH TƯỢNG CON CÒ QUEN THUỘC TRONG NHỮNG CÂU HÁT RU. QUA HÌNH TƯỢNG CON CÒ, TÁC GIẢ NHẰM NÓI VỀ ĐIỀU GÌ?    Bài thơ phát triển từ một hình tượng bao trùm là hình tượng con cò quen thuộc trong những câu hát ru truyền thống. Hình tượng này được x

Liên kết câu và đoạn văn

  PHÂN TÍCH SỰ LIÊN KẾT VỀ NỘI DUNG, VỀ HÌNH THỨC GIỮA CÁC CÂU TRONG ĐOẠN VĂN SAU THEO GỢI Ý NÊU Ở DƯỚI. 1. CHỦ ĐỀ CỦA ĐOẠN VĂN LÀ GÌ? NỘI DUNG CÁC CÂU TRONG ĐOẠN VĂN PHỤC VỤ CHỦ ĐỀ ẤY NHƯ THẾ NÀO? NÊU MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ ĐỂ THẤY TRÌNH TỰ SẮP XẾP CÁC CÂU TRONG ĐOẠN VĂN LÀ HỢP LÍ. 2. CÁC CÂU ĐƯỢC L

Hướng dẫn soạn bài Chó sói và cừu tong thơ ngụ ngôn của La Phongten

CÂU 1. XÁC ĐỊNH BỐ CỤC HAI PHẦN CỦA BÀI NGHỊ LUẬN VĂN CHƯƠNG NÀY VÀ ĐẶT TIÊU ĐỀ CHO TỪNG PHẦN. ĐỐI CHIẾU CÁC TÁC PHẨM ẤY ĐỂ TÌM RA BIỆN PHÁP LẬP LUẬN GIỐNG NHAU VÀ CÁCH TRIỂN KHAI KHÁC NHAU KHÔNG LẶP LẠI. Bài nghị luận văn chương này gồm có hai phần: Từ Giọng chú cừu non tội nghiệp đến và tốt bụng

Soạn bài Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp - Soạn văn lớp 9

CÁCH DẪN TRỰC TIẾP Trong phần trích a, phần in đậm là lời nói vì có từ bảo nói trong phần lời của người dẫn. Nó được tách ra khỏi phần câu đứng trước bằng dâu hai chấm và dấu ngoặc kép. Trong phần trích b, phần in đậm là nghĩa, vì có từ nghĩ trong phần lời cùa người dẫn. Dấu hiệu tách hai phần câu

Soạn bài Người con gái Nam Xương - Soạn văn lớp 9

CÂU 1. TÌM BỐ CỤC CỦA TRUYỆN A.  ĐẠI Ỷ: Câu chuyện một người phụ nừ đức hạnh “đẹp nết, đẹp người” lẽ ra phải được hạnh phúc nhưng trái lại, bị oan khuất phũ phàng dành phải mượn làn nước bạc chứng minh cho sự trong trắng của mình. B. BỐ CỤC: Truyện có thể chia làm 3 đoạn: Đoạn 1: Từ đầu đến lo liệu

Soạn bài Xưng hô trong hội thoại - Soạn văn lớp 9

XƯNG HÔ TRONG HỘI THOẠI I. TỪ NGỮ XƯNG HÔ VÀ VIỆC SỬ DỰNG TỪ NGỮ XƯNG HÔ 1 Một Số từ ngữ để xưng hô trong Tiếng Việt Một số từ ngữ dùng đế xưng hô trong tiếng Việt: tôi, mình, cậu, tớ, anh, chị, chúng tôi, bọn mày, bọn tao...      Khi để xưng, người nói dùng: tôi, mình, tớ.... với người đối thoại gọ

Soạn bài Các phương châm hội thoại ( tiếp ) - Soạn văn lớp 9

I. QUAN HỆ GIỮA PHƯƠNG CHÂM HỘI THOẠI VÀ TÌNH HUỐNG GIAO TIẾP Đọc câu chuyện CHÀO HỎI truyện dân gian Việt Nam và trả lời: Câu hỏi thăm: “BÁC LÀM VIỆC VẤT VẢ VÀ NẶNG NHỌC PHẢI KHÔNG?” trong nhiều tình huống giao tiếp khác có thể được coi là lịch sự thể hiện sự quan tâm đến người khác. Nhưng ở tình h

Liên kết câu và đoạn văn(luyện tập

CÂU 1. CHỈ RA CÁC PHÉP LIÊN KẾT CÂU VÀ LIÊN KẾT ĐOẠN VĂN TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP SAU ĐÂY: