Soạn bài Ca dao than thân , yêu thương , tình nghĩa - Soạn văn lớp 10

Hướng dẫn giải

1. Bài 1 và 2

Tiếng hát than thân.

Hai bài ca dao là hai lời than thân giống nhau ở mô thức mở đầu “Thân em như...”, và khác nhau ở hình ảnh so sánh ẩn dụ ở bài đầu là tấm lụa đào, ở bài sau là củ ấu gai.

Ca dao có một hệ thống bài mở đầu bằng Thân em như được coi là “lời than chung” của người phụ nữ trong xã hội cũ vì họ chính là loại ngườị I khổ nhất trong xã hội đó:

         -                  Thân em như hạt mưa rào

                    Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

         -                   Thân em như trái bần trôi

                     Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

         -                    Thân em như miếng cau khô

                   Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.

         -                     Thân em như cá trong lờ

                    Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

         -                Thân em như cái quả xoài trên cây

                          Gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc

                          Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành.

Hình ảnh ẩn dụ so sánh trong các bài này đặc biệt là  hai bài trên đã thể hiện một cách sâu xa và thấm thiaa nỗi khổ đã nói ở trên. Bổ sung cho hình ảnh so sánh ở đây là câu miêu tả gợi lên được nỗi khổ của người phụ nữ xưa khá sâu sắc: khổ vì thân phận bị phụ thuộc, giá trị của họ không được ai biết đến chẳng khác chi tấm lụa đào phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? và củ ấu gai ruột trong thì trắng vồ ngoài thì đen.

Người phụ nữ trong Bài 1 hơn ai hết đã ý thức được nhan sắc, xuân thì  và giá trị của mình (như tấm lụa đào), nhưng số phận của họ thì lại hết sức chông chênh. Họ cứ phấp phỏng lo âu {Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai). Họ biết mình chẳng khác gì một món hàng để bán mua giữa chợ. Còn chi đau xót hơn người thiếu nữ vừa bước vào tuổi xuân thì, tuổi đẹp nhất, hạnh phúc nhất thì đã phấp phỏng lo âu về thân phận. Phép đối lập giừa hai dòng thơ trong bài càng khiến người đọc cảm nhận sâu sắc hơn nổi đau mà cũng là nỗi lo đó.

Ở Bài 2, số dòng nhiều gấp đôi Bài 1. Ở đây vẫn là sự tự ý thức được khẳng định, ngoài lời bộc bạch chân thành còn có lời mời mọc da diết. Nếu bài trên khẳng định tuổi xuân phơi phới thì bài này nhấn mạnh vào giá trị đích thực của người phụ nữ: Ruột trong thì trắng vồ ngoài thì đen. Lời mời mọc tiếp đó càng khẳng định mạnh mẽ hơn cái giá trị đích thực vừa nói:

                                  Ai ơi, nếm thử mà xem!

                          Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

Vì sao lại phải bộc bạch rõ và mời mọc đến da diết như vậy. Chính vì giá trị của họ không được ai biết đến. Đọc bài ca dao càng chua xót thân phận ngậm ngùi cho thân phận người con gái trong xã hội xưa. Bài ca dao cùng là lời than thân sâu sác đầy tính thẩm mĩ là nhờ giá trị nhân văn cùng tiếng nói tố cáo. Người đọc không thể không liên tưởng đến một số bài thơ cùng cảm hứng ấy của Hồ Xuân Hương, đặc biệt là bài Bánh trôi nước:

                                     Thân em vừa trắng lại vừa tròn

                                     Bảy nổi ba chìm với nước non

                                     Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn...

2. Bài 3

Ớ bài này, cách mở đầu có khác với hai bài trên. Nếu hai bài 1 và 2 mở đầu bằng mô thức “Thân em như...” thì ở bài 3, tác giả dân gian dùng lôi đưa đẩy, gợi cảm hứng: Trèo lên cây khế nửa ngày. Đây cũng là cách mở đầu thường gặp trong ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa, Trèo lên cây gạo cao cao... Cách mở đầu của nỗi chua xót vì lỡ duyên thường là của các chàng trai:

Từ ai trong câu kế: Ai làm chua xót lòng nàng, khế ơi! Tuy phiếm chỉ nhưng lại hàm chứa ý nghĩa xác định. Người đọc, người nghe hiểu ngay là chính cái xã hội phong kiến xưa, chứ không phải là ai khác đã làm tan nát biết bao môi tình đẹp của những đôi lứa yêu nhau ngày cũ. Từ ai xoáy sâu vào lòng người biết bao là đắng cay, chua xót. Tác giả dân gian khéo chơi chữ: khế chua, lòng người chua xót. Lời hỏi khế của chàng trai là một lời than da diết và thấm thía xiết bao.

Dù lỡ duyên nhưng tình nghĩa vẫn bền vững thủy chung như trời đất trăng sao bền vững vĩnh hằng:

                                        Mặt trăng sảnh với mặt trời

                                 Sao Hôm sánh với sao Mai chằng chằng.

Lối ẩn dụ trời - tráng - sao đã thể hiện điều vừa nói. Dù có cách xa nhau như mặt trăng với mặt trời, như sao Hôm với sao Mai nhưng đôi ta, anh và em vẫn xứng lứa vừa đôi, vẫn là một như sao Hôm và sao Mai vốn chỉ là sao Kim, như ánh sáng mặt trăng cũng vốn là từ ánh sáng mặt trời mà có. Tác giả dân gian lấy hình ảnh vũ trụ, thiên nhiên là cái to tát, vĩnh hằng, bền vững để khẳng định lồng người không đổi thay luôn chung thủy.

Câu thơ cuối là câu hỏi của chàng trai:

                                          Mình ơi! Có nhớ ta chăng

                                 Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Sao Vượt là từ cổ để chỉ sao Hôm. Sao Vượt mọc rất sớm từ lúc chiều hôm và khi lên đến đỉnh trời lúc đã khuya thì trăng mới mọc. Với hình ảnh thơ giàu ý nghĩa này, chàng-trai bộc lộ tâm Sự mình: một sự chờ đợi mòn mỏi trong cô đơn vô vọng. Duyên dù lỡ nhưng tình nghĩa mãi còn không thể đổi thay, tình nghĩa mãi mãi ánh lên vẻ đẹp lấp lánh như ngôi sao Vượt chờ trăng giữa trời.

3. Bài 4

Thương nhớ xưa nay vốn là một tình cảm khó hình dung, nhất là thương nhớ người yêu. Vậy mà  bài ca dao này, nỗi tương tư đó lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tỉnh tế và gợi cảm. Đố là nhờ cách nói riêng mang tính nghệ thuật cao của ca dao. Tác giả dân gian đã nói bằng hình ảnh, biểu tượng, một lôi nói thường thấy trong ca dao nhằm thể hiện, diễn tả những điều trừu tượng.

Ở đây, những hình ảnh biểu tượng ấy là khăn, đèn, mắt .

Khăn thương nhớ ai,

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lèn vai

Khăn thương nhở ai

Khăn chùi nước mắt

Đèn thương nhở ai

Mà đèn không tắt

Mắt thương nhở ai

Mắt ngủ không yên

Đèm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề

    Ở đây nổi nhớ niềm thương của cô gái đối với người yêu đã được biểu hiện cụ thể, sinh động bằng các hình ảnh biểu tượng: khăn, đèn, mắt. Chủ ngữ khăn, đèn, mắt tuy khác nhưng chủ thể chỉ là một. Khăn, đèn đã được nhân hóa còn mắt là phép hoán dụ (dùng một bộ phận để chỉ toàn thể) để thể hiện nhồn vật trữ tình. Hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi mắt cũng chính là cô gái tự hỏi lòng mình: Câu hỏi dồn dập, thay đổi nhưng câu trả lời vẫn được giừ nguyên. Phải thương nhớ bồn chồn lắm, cô gái mới hỏi dồn dập đến như vậy.

Trước tiên là hỏi khăn. Từ khăn dược lặp lại đến những 6 lần ở vị trí , đầu câu thơ và ba lần khăn thương nhớ ai làm nên điệp khúc khiến nỗi nhớ niềm thương càng thêm triền miên, da diết, trào dâng. Hiện lên đang sau hình ảnh vận động xuống lên, nơi vắt của chiếc khăn - vật luôn quấn quýt bên mình của cô gái là tâm trạng ngổn ngang trăm mối tơ vò của cô. Thương nhớ tương tư đến mức cô gái. vào ngơ ra ngẩn, không còn làm chủ được bước đi dáng đứng của mình. Đó là thương nhớ tương tư có không gian. Cái không gian tương tư ấy có nhiều chiều (khăn rơi xuống đất, khăn vắt lên vai, khăn chùi nước mắt), cồn nỗi thương nhớ thì bàng bạc khắp chôn mọi nơi khiến người trong cuộc đứng ngồi không yên ổn {như đứng đống lửa, như ngồi .đống than). Nỗi thương nhớ tương tư đã khiến cô gái phải khóc thầm 0khăn chùi nước mắt) như biết bao cô gái khác trong ca dao xưa “Nhớ ai em những khóc thầm; Hai dòng nước mắt đằm đằm như mưa...”. Sau hỏi khăn, cô gái hỏi đến ngọn đèn:

      Đèn thượng nhớ ai

      Mà đèn không tắt

Niềm thương nỗi nhớ của cô ở đây còn được tính bằng thời gian, từ ngày sang đêm, từ “mảnh khăn” đến “ngọn đèn”. Ca dao xưa tả nỗi tương tư thật phong phú, đa dạng:

“Nửa đêm trở dậy trông trời”, “Đêm qua ra đứng hờ ao”, “Đêm khuya thắp chút dầu dư"... Ớ bài này, vẫn là điệp khúc thương nhở ai nhưng niềm thương nỗi nhớ đã gửi vào ngọn đèn không tắt nghĩa là lửa tình vẫn cháy sáng trong tim. "Đèn chẳng tắt”, nghĩa là cô gái vẫn trằn trọc nhớ thương?

Sau cùng là hỏi chính mắt mình:

                        Mắt thương nhớ ai

                        Mắt ngủ không yên

Từ cách nói biểu tượng, nhân hóa “cái khăn”, “ngọn đèn” đến đây là cách hoán dụ “đôi mắt”. Cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình. Nếu bên trên “đèn không tắt” thì ở đây “mắt ngủ không yên”. Tác giả dân gian sử dụng hình tượng thật hợp lí, nhất quán tự nhiên và thật đặc sắc.

Trên đây, phía sau 10 dòng thơ bốn chữ là một nồi nhớ thương dồn dập. Cô gái 4 lần nêu lên câu hỏi mà không có lời đáp. Câu trả lời hay lời đáp đã được đặt vào 5 điệp khúc "thương nhớ ai" đã vang lên xoáy vào lòng người một niềm khắc khoải khôn nguôi. Bốn câu hỏi không có lời đáp dồn dập cất lên như thể nỗi nhớ niềm thương trong lòng cô gái bị nén chặt để sau cùng bật lên thành nỗi lo âu bát ngát cho hạnh phúc lứa đôi của mình:

                                 Đêm qua em những lo phiền

                                 Lo vì một nỗi không yên một bề.

Trằn trọc nhớ thương người yêu nhưng cô gái cũng vẫn lo âu cho Sộ' I phận của mình, cho duyên phận lứa đôi “không yên một bè". Trong xã hội cũ, hạnh phúc lứa đôi thường bấp bênh vì một lẽ, không phải tình yêu tha thiết nào cùng dẫn đến hôn nhân, hạnh phúc, bởi vậy các lứa đôi luôn nơm nớp lo sợ: “Thương anh cùng muốn nói ra; Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời".

Tuy thế, bài ca dao trên vẫn là tiếng hát đầy yêu thương của một tấm lòng đòi hỏi được yêu thương. Nỗi tương tư thương nhớ của cô gái chẳng chút bi lụy mà vẫn chan chứa tình người thể hiện một vẻ đẹp tâm hồn của các cô gái nông thôn xưa của nước ta.

4. Bài 5

Đây là lời cô gái thổ lộ ước muốn, khát vọng cháy bỏng của trái tim mình cùng người yêu trong một ý tưởng táo bạo bằng một hình ảnh độc đáo:

                                     Ước gì sông rộng một gang
                           Bắc cầu dải yểm cho chàng sang chơi

Ca dao đã nói nhiều về “cầu tre”, “cầu ván”, “cấu đá”, “cầu xây” thậm chí cả “cầu mồng tơi”, “cầu sợi chỉ”, “cầu cành hồng”... nhưng lãng mạn nhất, hay nhất, đẹp nhất vẫn là “cầu dải yếm”.

Sông rộng một gang” là sông ảo mà cái cầu kia lại càng ảo. Đó là cầu tình yêu mà cô gái chủ động bắc cho người mình yêu đến với mình trong sự khe khắt ràng buộc của lễ giáo phong kiến cũ. Dải yếm là vật thân thiết gần gũi mềm mại luôn quấn quýt bên thân hình cô cầu dải yếm là cuộc đời, là trái tim tha thiết rạo rực yêu thương của người phụ nữ...

5. Bài 6

Thể hiện tình nghĩa thong dong của con người, ca dao xưa dùng hình ảnh muối và gừng:

“Muối ba năm muối đang còn mặn

 Gừng chín tháng gừng hãy còn cay

 Đôi ta tình nặng nghĩa dày

 Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa ."

    Muối và gừng là những gia vị gần gũi thân thiêt trong bữa ăn cua người Việt Nam chúng ta. Gừng có riêng vị cay thơm tho, nồng nàn.

Muối có riêng vị mặn đậm đà, thấm sâu. Hương vị dó cũng là hương vị tình người trong cuộc sống tự bao dời của nhân dân ta.

Gừng cay — muối mặn là biểu trưng cho sự gắn bó thủy chung của những cặp vợ chồng chung lưng dấu cật, dầu ấp, chia sẻ mặn nồng ấm lạnh. Nghĩa tình ấy bền vững với thời gian chẳng khác chi:

       Muối ba năm muối đang còn mặn
       Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.

Hương vị của muối và gừng ở dây cũng là hương vị tình người:

        Đôi ta nghĩa nặng tình dày

Với cách nói trùng điệp, nhấn mạnh tiếp nối (hai lần láy lại muối, gừng, ba năm —> chín tháng, còn mặn, còn cay, tình nặng nghĩa dày... tác giả dân gian nhằm khẳng định sự thủy chung son sắt của lứa đôi này:

           “Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”.

Ba vạn sáu ngàn ngày là một trăm năm, một đời người. Nói như vậy là đâu có xa nhau!

6. Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng

  • Sự lặp lại mô thức mở đầu: thân em như...
  • Các mô-tip đã thành biểu tượng: cái cầu, tấm khăn, ngọn đèn, gừng cay, muối mặn...
  • Hình ảnh so sánh ẩn dụ tấm lụa đào, củ ấu gai, mặt trời, trăng, sao...
  • Thời gian và không gian nghệ thuật (Bài 4).
  • Thể lục bát, bốn chữ, song thất lục bát (biến thể); thể hỗn hợp...

LUYỆN TẬP

Bài tập 1 :

5 bài ca dao mở đầu bằng “Thân em nhít’:

  -                               Thân em như hạt mưa rào
                         Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa.

  -                                Thân em như trái bần trôi

                          Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu.

  -                                 Thân em như miếng cau khô

                           Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.

  -                                 Thân em như cá trong lờ

                           Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

 

  -                                Thân em như cái quả xoài trên cây

                                   Gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc 

                                   Nó đánh lúc la lúc Iắc trên cành.

 

Bài tập 2.

a) Ca dao về nỗi nhớ người yêu:

  -                                      Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn
                                   Đã bưng lấy bát lại đặt xuống mâm.

  -                                       Nhớ ai em những khóc thầm
                                   Hai dòng nước mắt đằm đằm như mưa.

  -                                       Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ,

                                     Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?

  -                                        Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi,

                                   Như đứng đổng lửa như ngồi đống than.

b) Ca dao về cái khăn

  -                                 Nhớ khi khăn mở trầu trao
                            Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

  -                                  Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

                            Gửi đôi chăng mạng cho người ở xa.

c)   Bài ca dao Khăn nhớ thương ai vừa nằm trong hệ thống các bài ca dao 1 trên (b) lại vừa có vị trí đặc biệt, độc đáo riêng. Đó là cụ thể, sinh 1 động tống hợp, khái quát trọn vẹn về nỗi nhớ thương trong tình yêu của cô gái Việt. Đây cũng là bài ca dao đặc sắc nhất tiêu biểu nhất về nỗi nhớ trong tình yêu của các cô gái Việt Nam thời xưa. Theo Nguyền Khoa Điềm đó cũng là một nét đẹp tâm hồn của nhân dân ta. Ông viết:

“Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”.

Bạn muốn xem thêm với

Có thể bạn quan tâm

Lập luận trong văn nghị luận

CÂU 1: TÌM VÀ PHÂN TÍCH CÁC LUẬN ĐIỂM, LUẬN CỨ VÀ PHƯƠNG PHÁP LẬP LUẬN TRONG ĐOẠN TRÍCH Ở BÀI KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ TK.X ĐẾN HẾT TK.XIX SGK    Luận  điểm: Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại rất phong phú, da dạng.    Các luận cứ:  + Các luận cứ lí lẽ: Chủ nghĩa nhân đạo biểu hiện ở l

Hướng dẫn soạn bài Chí khí anh hùng

   CÂU 1: ANH CHỊ HÃY CHO BIẾT HÀM NGHĨA CÁC CỤM TỪ “LÒNG BỐN PHƯƠNG” VÀ “MẶT PHI THƯỜNG”. TÌM NHỮNG TỪ NGỮ THỂ HIỆN SỰ TRÂN TRỌNG, KÍNH PHỤC CỦA NGUYỄN DU VỚI TỪ HẢI.    Đọc lại phần chú thích:   Lòng bốn phương: “Bốn phương” nam, bắc, đông, tây có nghĩa là thiên hạ, thế giới. Theo Kinh Lễ, xưa si

Hướng dẫn soạn bài Thề nguyền

CÂU 1: NÊU NHẬN XÉT VỀ HÀM NGHĨA CỦA CÁC TỪ “VỘI, “XĂM XĂM”, “BĂNG”.    Trong đoạn trich Thế nguyền  Nguyễn Du đã có đến hai lần dùng chữ vội một lần chữ xăm xăm về một lần chữ  băng . Những chữ vừa nói thể hiện một không khí gấp gáp, khẩn trương của cuộc thề nguyền. Phải chăng Kiểu như tranh đua cù

Văn bản văn học

CÂU 1: VĂN BẢN “NƠI DỰA” Bài thơ văn xuôi Nơi dựa của Nguyễn Đình Thi cố hai đoạn rõ rệt. Chỉ cần nhìn vào văn bản ở sách giáo khoa là nhận ra ngay. Haỉ đoạn thơ chừng như dối xứng nhau về cách cấu trúc câu: câu mở đầu và câu kết của mỗi đoạn. Theo lôgic thông thường, người yếu đuôi tìm “nơi dựa”

Soạn bài Lời tiễn dặn - Soạn văn lớp 10

1. DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG CỦA CHÀNG TRAI TRÊN ĐƯỜNG TIỄN NGƯỜI YÊU VỀ NHÀ CHỒNG NHƯ THẾ NÀO? HÃY PHÂN TÍCH NHỮNG CÂU THƠ, NHỮNG DẪN CHỨNG THỂ HIỆN TÂM TRẠNG ĐÓ. TRẢ LỜI:    Phải tiễn người yêu về với nhà chồng, lòng Anh vô cùng đau xót. Thế nhưng trên đường đưa tiễn, Anh gọi chị là “người đẹp anh yêu”,

Soạn bài Ca dao hài hước - Soạn văn lớp 10

1. ĐỌC BÀI CA 1 VÀ TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI: VIỆC DẪN CƯỚI VÀ THÁCH CƯỚI Ở ĐÂY CÓ GÌ KHÁC THƯỜNG? CÁCH NÓI CỦA CHÀNG TRAI VÀ CÔ GÁI CÓ GÌ ĐẶC BIỆT? TỪ ĐÓ ANH CHỊ HÃY NÊU CẢM NHẬN CỦA MÌNH VỀ TIẾNG CƯỜI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CẢNH NGHÈO. BÀI CA DAO CÓ GIỌNG ĐIỆU HÀI HƯỚC, DỈ DỎM, ĐÁNG YÊU LÀ NHỜ NHỮNG

Soạn bài Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết - Soạn văn lớp 10

LUYỆN TẬP BÀI TẬP 1:       Việc sử dụng nhiều thuật ngữ ngôn ngữ học: vốn chữ, từ vựng, ngữ pháp, bản sắc, phong cách, thể văn, văn nghê, chính trị, khoa học.      Sự chọn lựa một cách có ý thức của người viết để thay thế từ.       Việc dùng các loại dấu câu đặc trưng cho ngôn ngữ viết: dấu chấm, dấ

Soạn bài Viết bài làm văn số 2 : Văn tự sự - Soạn văn lớp 10

ĐỀ: HÃY ĐÓNG VAI NHÂN VẬT XÍU KẾ LẠI QUÁ TRÌNH HỒI PHỤC TRỞ VỀ VỚI CUỘC SỐNG CỦA GIÔNXI TRONG CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG. Bài làm    Bệnh tình của Giônxi ngày càng nặng. Tòi và cụ Bơmen hết SỨC lo lắng tìm mọi cách để động viên, cố giữ cô ta lại với cuộc sống. Bởi Giônxi đã suy sụp tinh thần và đang nghĩ đế