Soạn bài Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy - Soạn văn lớp 10

Hướng dẫn giải

Câu 1. Dựa theo cốt truyện và hãy tìm những chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương. Trên cơ sở các chi tiết anh chị hãy phân tích:

a. Do đâu mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ? Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, dân gian muốn thể hiện cách đánh giá như thế nào về nhà vua.

b. Sự mất cảnh giác của nhà vua được biểu hiện thế nào?

c. Sáng tạo chi tiết Rùa Vàng, Mị Châu, ... nhân dân muốn biểu lộ thái độ, tình cảm gì đối với nhân vật lịch sử An Dương Vương và việc mất nước Âu Lạc?

Trả lời:

   a)  An Dương Vương được thần linh giúp đỡ là nhờ tinh thần cảnh giác, ý chí đanh thép quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của mình. Ông lo xây thành dù nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức vẫn không bỏ cuộc. Nhà vua cũng chuẩn bị cả vũ khí từ khi giặc còn ở xa chưa đến.

Tưởng tượng về sự giúp đỡ thần kì của thần linh đôi với An Dương Vương cũng là một phương cách để nhân dân ca ngợi nhà vua, thể hiện lòng tự hào với chiến công đắp thành chế nỏ chiến thắng ngoại xâm của dân tộc.

b)  Sự mất cảnh giác của An Dương Vương là không suy xét kĩ, mơ hồ về bản chất ngoan cố của kẻ thù xâm lược, chẳng những đồng ý cho Trọng Thủy đi lại mà còn gả con gái yêu của mình là nàng Mị Châu cho Trọng Thủy nữa. Đây chính là cơ hội tốt mở đường cho con trai đối phương lọt vào làm nội gián trong hàng ngũ của mình mà không hề hay biết. Lúc quân Triệu Đà sang đánh, vua cậy có nỏ thần vẩn điềm nhiên, đánh cờ, không phòng bị gì cả nghĩa là hết sức chủ quan khinh địch.

c)   Sáng tạo ra những chi tiết về Rùa Vàng, Mị Châu, nhà vua tự tay chém con gái... nhân dân muốn biểu lộ thái độ, tình cảm của mình là:

 -   Tỏ lòng kính trọng đối với thái độ dũng cảm của An Dương Vương, một vị anh hùng đã chiến bại.

-    Phê phán thái độ mất cảnh giác: “Trái tim lầm chỗ đặt lên đầu” của Mị Châu.

  Giải thích vì sao mất nước nhằm xoa dịu nỗi đau mất nước.

Câu 2 : Về việc Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần, có hai cách đánh giá như sau:

- Mị Châu làm vậy chỉ là thuận theo tình cảm vợ chồng mà bỏ quên nghĩa vụ với đất nước.

- Mị Châu làm theo ý chồng là lẽ tự nhiên, hợp lí

Ý kiến riêng của anh (chị) thế nào?

Trả lời :

   Để đánh giá việc Mị Châu lén đưa cho Trọng Thủy xem nỏ thần cho đúng đắn phải dựa trên hai cơ sở có tính nguyên tắc:

  1. Đặc trưng của thể loại truyền thuyết.
  2. Ý thức xã hội chính trị - thẩm mĩ của nhân dân khi đến với thể loại này.

Trước tiên, truyền thuyết là một loại hình nghệ thuật dầy tính sáng tạo, phản ánh lịch sử, kế về sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử để nhằm ca ngợi, đề cao cái đẹp, cái tôt, cái tích cực vò phô phán cái xâu, cái tiêu cực theo quan niệm của nhân dân. Lịch sử nước ta từ sau thời Âu Lạc đến truyền thuyết trên được cố định hóa trong văn bản Lĩnh Nam chính quái khoảng 18 thế kỉ, nhân dán ta luôn không ngừng chăm lo giữ nước và cùng không ngừng chiên đâu vì độc lập tự do. Trong bối cảnh như thế, lòng yêu nước thương nòi, tinh thần tự hào . dân tộc... nhất định phải là một trong những truyền thuyết sâu rễ bền gốc nhất và phát triển liên tục nhất.

Nói như thế là đã rõ vì sao nhân dân ta phê phán Mị Châu bằng bản án tử hình một cách đích đáng. Thấu lí nhưng nhân dân cũng rất đạt tình, thấu hiểu Mị Châu mắc tội không do chủ ý mà chỉ vô tình, ngây thơ, nhẹ dạ. Bởi vậy mà truyền thuyết đã “sắp xếp” để mai này chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu đúng như lời nguyền của nàng...

Trong bài thơ Tâm sự, nhà thơ Tố Hữu từng viết:

                             “Tôi kể người xưa chuyện Mị Châu

                              Trái tim lầm chỗ đặt trẽn đầu

                              Nỏ thần vô ý trao tay giặc

                              Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.

Câu 3. Mị Châu bị Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu, nhưng sau đó, máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc thạch. Hư cấu như vậy, người xưa muốn bày tỏ thái độ và tình cảm thế nào đối với nhân vật Mị Châu và muốn gửi gắm gì đến thế hệ trẻ muôn đời sau.

Trả lời:

Mị Châu bị thần Rùa Vàng kết tội là giặc, lại bị vua cha chém đầu. Nhưng sau đó, máu nàng hóa thành ngọc trai, xác nàng hóa thành ngọc thạch. Hư cấu như vậy, người xưa vừa bày tỏ thái độ nghiêm khắc, đã thi hành bản án của lịch sử vừa thể hiện tình cảm bao dung, thấu hiểu cảm thông với sự vô tư trong trắng, thơ ngây vì vô tình mà mắc tội của Mị Châu.

Bài học mà người xưa ở đây muôn nhắn gửi đến thế hệ trẻ gái trai muôn đời sau là phải đặt việc nước lên trên việc nhà, «lặt cái chung lên trên cái riêng. Đây là bài học đạo đức cần thiết cho cả mọi người, mọi nhà, mọi thời đại.

Câu 4. Trọng Thủy gây nên sự sụp đổ cơ đồ Âu Lạc và cái chết cho Mị Châu. Vậy anh (chị)  hiểu như thế nào về hình ảnh "ngọc trai  - giếng nước"?

Trả lời :

Trọng Thủy trước sau vẫn là một tên gian tế. Chính hắn đã gây nên sự sụp đổ cơ đồ Âu Lạc và cái chết của hai cha con Mị Châu. Thế mà có người lại cho rằng hình tượng ngọc trai, nước giếng là để chỉ mối tình chung thủy Mị Châu - Trọng Thủy. Hãy đọc kĩ lại văn bản: Mị Châu trước khi bị vua cha trừng phạt về tội phản nghịch có khấn: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chét đi sẽ biến thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu mà bị người lừa dối thì chết đi sẽ biến thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Liền đó “Mị Châu chêt ở bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu”. Như vậy điều này đã minh chứng cho lòng trong trắng của nàng, khẳng định nàng vốn không có lòng phản nghịch, cho thấy cái chết của nàng dẫu sao cùng là một nỗi oan tình đáng thương.

Nói hình ảnh ngọc trai - nước giếng nhằm ca ngợi mối tình chung thủy Mị Châu - Trọng Thủy là sai lầm, bởi lẽ những người dân Âu Lạc nước không đời nào lại sáng tạo nghệ thuật để ca ngợi những kẻ đã đưa họ đến bi kịch thất quốc vong gia. Cũng phải hiểu là An Dương Vương tuy cố góp phần dẫn đến bi kịch mất nước Âu Lạc, nhưng nhân dân Ầu Lạc trước sau vẫn một lòng kính trọng suy tôn ông là anh hùng dân tộc

Câu 5. Từ những điều đã phân tích, anh (chị) hãy cho biết đâu là "cốt lõi lịch sử" của truyện và cốt lõi lịch sử đó được dân gian thần kì hóa như thế nào?

Trả lời :

Cốt lõi lịch sử của truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy là nước Âu Lạc và thời An Dương Vương đã được kiến tạo liên với thành cao, hào sâu, với vũ khí lợi hại, đủ sức để chiến thắng cuộc xâm lược từ phương Bắc của Triệu Đà. Nhưng rất tiếc về sau đã lại rơi vào tay kẻ thù xâm lược ấy.

Cốt lõi lịch sử vừa nói đã đươc dân gian thần kì hóa. Nhân vật thần Rùa Vàng xuất hiện giúp An Dương Vương xây thành cổ Loa ở đầu truyện là nhằm thần kì hóa chiến công xây thành, chế nỏ bảo vệ đất nước của dân tộc ta mà đứng đầu là An Dương Vương. Đến cuối truyện thần Rùa Vàng lại hiện lên kết ần Mị Châu, rước An Dương Vương về thủy phủ nơi Lạc Long Quân ngự trị. Rồi nhân vật Mị Châu được hư cấu hóa với sự hóa thân kì diệu sau khi chết. Những chi tiết vừa nối này nhằm giải thích việc mất nước Ầu Lạc qua trí tưởng tượng của một dân tộc rất đỗi yêu nước nay lần đầu bị mất nước. Cả đến Trọng Thủy với chi tiết nước giếng có hồn Trọng Thủy rửa ngọc ở biển Đông làm ngọc trong sáng thêm cũng là sản phẩm trừu tượng của những chi tiết thần kì hóa này, phù hợp với tình cảm của dân gian Âu Lạc. Điều này thỏa mãn được nhu cầu tâm lí rất đỗi thiêng liêng của nhân dân là khẳng định dứt khoát rằng An Dương Vương và nhân dân Âu Lạc mất nước không phải do bất tài mà chính do kẻ thù dừng thủ đoạn hèn hạ, lợi dụng tình yêu trai gái, nhằm vào cô gái ngây thơ cả tin như Mị Châu. Điều đó cũng là sự đáp ứng nhu cầu của dân gian Âu Lạc khẳng định sự bất tử của vị vua anh hùng dựng nước vang danh một thời, với thành cổ Loa hoành tráng, bề thế được bảo vệ bởi chiếc nỏ thần lợi hại khiến kẻ thù phương Bắc phải khiếp sợ.

Như thế đúng là sự thần kì hóa lịch sử truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy nhằm suy tôn dân tộc và đất nước, đồng thời cũng hạ thấp kẻ thù.

LUYỆN TẬP

Câu 1. Có hai cách đánh giá như sau:

a. Trọng Thủy chỉ là một kẻ gián điệp, ngay cả việc yêu Mị Châu cũng chỉ là giả dối.

b. Giữa Trọng Thủy và Mị Châu có tình yêu chung thủy và hình ảnh "ngọc trai - giếng nước" đã ca ngợi mối tình đó.

Trả lời:

Cả hai cách đánh giá a và b đều hời hợt, phiến diện đều chỉ đúng được một nửa. Học sinh suy nghĩ tự tìm ra lời giải đáp toàn diện phù hợp với dạo lí của dân tộc và đạo lí của con người.

Câu 2. An Dương Vương đã tự tay giết chết người con gái duy nhất của mình nhưng lại được dân gian dựng đền và am thờ hai cha con ngay cạnh nhau. Cách xử lí như vậy nói lên truyền thống đạo lí gì của nhân dân ta?

Trả lời:

An Dương Vương đã tự tay chém người con gái duy nhất cùa mình. Nhưng dân gian lại dựng đền và am thờ hai cha con bên cạnh nhau. Cách xử lí như vậy rất phù hợp với đạo lí truyền thống của dân tộc ta. Đó là cách xử lí thể hiện sự bao dung với đứa con trót có thời lầm lỡ gây tai họa cho nhân dân, nhưng cuối cùng đã hôi hận và thọ hình xứng đáng. Đó cũng là đức nhân hậu của nhân dân ta.

Câu 3. Tìm một số bài thơ viết về Mị Châu - Trọng Thủy và nêu lên sức sống lâu bền của Truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy?

Trả lời:

Một vài bài thơ viết về Mị Châu — Trọng Thủy

                                                   MỊ CHÂU

                            Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn

                            Những chiếc lông không tự biết giấu mình.

 

                            Nước mắt thành mặt trái của lòng tin

                            Tình yêu đến cùng đường cái chết

                            Nhưng người đẹp dẫu rơi đầu vẫn đẹp

                            Tình yêu bị dối lừa vẫn nguyên vẹn tình yêu.

 

                            Giá như trên đời còn có một Mị Châu

                            Vừa say đắm yêu đương vừa luôn luôn cảnh giác

                            Không sơ hở, chẳng mắc lừa mẹo giặc

                            Một Mị Châu như ta vẫn hằng mơ.

 

                            Thì hẳn Mị Châu không sống đến bây giờ                    

                            Để chung thủy với tình yêu hai ngàn năm có lẻ

                            Như anh với em dẫu yêu nhau chung thủy

                            Đến bạc đầu bất quá chỉ trăm năm

                            Nên chúng ta dù rất đỗi đau lòng vẫn không thể cứu Mị Châu khỏi chết

                            Lũ trai biển sẽ thay người nuôi tiếp

                            Giữa lòng mình viên ngọc của tình yêu.

 

                            Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu

                            Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống

                           Cái đầu cụt gợi nhớ dòng máu nóng

                           Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào

                           Anh cùng như em muốn nhắc Mị Châu

                           Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác

                           Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước .

                           Nên em ơi ta đành tự nhắc mình.

                                                                                                  (Anh Ngọc)

                                                VIẾNG MỊ CHÂU

                                   Phải đau lắm lẫn trải tim

                                   Nàng thờ chữ hiếu, duyên tin tại trời

                                   Giấy trong, lòng cạn tại người

                                   Long lanh châu ngọc để đời nỗi đau 

                                   Oan đẩu ngọc thạch mất đầu

                                   Trầm hương thương tiếc Mị Châu lụy tình.

                                                                                                          (Hoài An)

Bạn muốn xem thêm với

Có thể bạn quan tâm

phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

  CÂU 1. HÃY CHỈ RA NHỮNG PHÉP TU TỪ THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ TẠO RA TÍNH HÌNH TƯỢNG CỦA NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT?    Để tạo ra tính hình tượng của ngồn ngữ nghệ thuật cổ các phép tu từ thường được sử dụng như; so sánh, nhân hóa, án dụ, hoán dụ, nói quá, nói giảm, nói tránh. Ví dụ: “Cầu cong như chiếc lược

Hướng dẫn soạn bài Trao duyên

CÂU 1. VIỆC KIỀU NHẮC ĐẾN NHỮNG KỶ NIỆM CỦA TÌNH YÊU CÓ Ý NGHĨA GÌ?     Việc Kim Kiều hẹn ước Vân không hề biết. Vì vậy mà Kiều phải kể rõ nguồn cơn cho Vân nghe, nàng kể tha thiết không hề giấu diếm. Trong khi kể với Thúy Vân, Kiều tưởng như sống lại với những kỉ niệm tình yêu:                    

Soạn bài Ra-ma buộc tội ( Trích Ra-ma-ya-na - Sử thi Ấn Độ ) - Soạn văn lớp 10

CÂU 1. SAU CHIẾN THẮNG, RAMA VÀ XITA GẶP NHAU TRƯỚC SỰ CHỨNG KIẾN CỦA MỌI NGƯỜI. A. CÔNG CHÚNG ĐÓ BAO GỒM NHỮNG AI? B. HOÀN CẢNH ẤY TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN NGÔN NGỮ, TÂM TRẠNG CỦA RAMA VÀ XITA? TRẢ LỜI: a Chọn D bHoàn cảnh tái hợp của Rama và Xita: Sau chiến thắng, Rama và Xita gặp lại nhau trong m

Soạn bài Uy-lít-xơ trở về ( Trích Ô-đi-xê - Sử thi Hy Lạp) - Soạn văn lớp 10

CÂU 1 : VĂN BẢN TRÊN CÓ THỂ MẤY ĐOẠN? NÊU NỘI DUNG CỦA MỖI ĐOẠN. 1. Văn bản trên có thể chia làm hai đoạn: Đoạn 1 từ đầu đến “kém gan dạ”. Đoạn 2 là phần còn lại. Đoạn 1 có các sự việc sau: Nhũ mẫu ơriclê báo tin nhưng Pênệlốp không tin. Nhũ mầu thề thốt đưa ra chứng cứ Pênêlôp vẫn không tin như

Soạn bài Lập dàn ý bài văn tự sự - Soạn văn lớp 10

I. HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG, DỰ KIẾN CỐT TRUYỆN Nhà văn Nguyên Ngọc kể về quá trình ấp ủ, thai nghén đề tài, chuẩn bị để sáng tác truyện ngắn RỪNG XÀ NU. Qua lời kể ây, ta có thể rút ra kinh nghiệm: Để chuẩn bị viết một bài văn tự sự, trước tiên ta cần hình thành ý tưởng, dự kiến cốt truyện có thể dự k

Soạn bài Văn bản ( tiếp ) - Soạn văn lớp 10

CÂU 1. ĐỌC ĐOẠN VĂN MỤC 1, SGK TRANG 37 VÀ THỰC HIỆN CÁC YÊU CẦU: A. PHÂN TÍCH TÍNH THỐNG NHẤT VỀ CHỦ ĐỀ CỦA ĐOẠN VĂN. B. PHÂN TÍCH SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ ĐỀ TRONG ĐOẠN VĂN C. ĐẶT NHAN ĐỀ CHO ĐOẠN VĂN TRẢ LỜI: a     Chủ đề của đoạn văn tập trung ở câu: Giữa cơ thể... qua lại với nhau. b     Các câu t

Soạn bài Chiến thắng Mtao Mxây - Soạn văn lớp 10

CÂU 1 : HÃY TÓM TẮT DIỄN BIẾN TRẬN ĐÁNH ĐỂ SO SÁNH TÀI NĂNG VÀ PHẨM CHẤT CỦA HAI TÙ TRƯỞNG.   Với lối mô tả song hành hai tù trưởng Đăm Săn và Mtao Mxây trong suốt diễn biến trận đánh, tác phẩm làm nổi bật sự hơn hẳn của Đăm Săn so với Mtao Mxây về cả tài năng, sức lực, về cả phong độ, phẩm chất. Cu

Soạn bài Viết bài làm văn số 1 : Cảm nghĩ về một hiện tượng đời sống ( hoặc một tác phẩm văn học ) - Soạn văn lớp 10

CẢM NGHĨ VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG HOẶC MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐỀ: CẢM NGHĨ CỦA VỀ MỘT PHONG TỤC NGÀY TẾT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TA. Bài làm    Nói đến Tết là nói đến bản sắc riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng của một dân tộc lại có nét riêng. Tết Hà Nội không thể thiếu hoa đào và quất. Phong tục chơi hoa